MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đã và đang trên đà phát trién công nghiệp hóa hiện đại hóa, tiến hành hội nhập quốc tế, van dé chất lượng nguồn lực con người là vấn đề rất cần được quan tâm. Điều đó đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới toàn diện dé dao tao nguồn nhân lực tương ứng. Đổi mới toàn diện là phải đổi mới cách dạy, cách học, cách tư duy sao cho sản pham tạo ra là những con người năng động, sáng tạo và chủ động trong mọi tình huống cuộc sông.
Đổi mới mô hình học tập là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nham nâng cao chất lượng Giáo dục và Đảo tạo. Một mô hình học tập khoa học sẽ làm thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng tạo của người học [20]. Mô hình giáo dục thế giới của thế kỷ XXI dựa trên bốn trụ cột: học đề biết, học để làm, học dé chung song va hoc dé lam người [13]. Với su phat triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, kỹ thuật thì việc học tập không chỉ thiên về lý thuyết mà cần phải đi đôi với thực hành, các kiến thức học được phải được vận dụng vào giải quyết các van đề thực tiễn trong cuộc sống.
Sở giáo dục dao tạo Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành “Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2017-2018” với mục tiêu định hướng như sau: “Tăng cường kỷ cương, nề nếp, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các cơ sở giáo dục trung học; đây mạnh đổi mới hoạt động dạy học theo định hướng giáo dục STEM nhằm thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; tiếp tục tổ chức dạy học hiệu quả với đa dạng các phương pháp dạy học; từng cơ sở giáo dục trung học tích cực chủ động công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực giảng dạy cho giáo viên, không xảy ra tình trạng đọc chép trong nhà trường; từng cơ sở giáo dục trung học chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, tạo niềm tin trong phụ huynh học sinh và toàn xã hội; đây mạnh thi đua “dạy tốt, học tốt” hướng đến việc xây dựng trường học đạt các tiêu chí của mô hình trường tiên tiễn, hiện đại hội nhập khu vực và thế gidi; tổ chức thực hiện 9 nhiệm vụ và 5 giải pháp trọng tâm của ngành giáo dục đào tạo với những giải pháp đột phá và những giải pháp lâu dài nhằm tạo ra bước phát triển mới cho giáo dục trung học thành phố” [12]. Qua khảo sát ở các trường trung học cơ sở hiện nay cho thấy, mô hình học tập truyền thống vẫn là mô hình đóng vai trò chủ đạo, người thầy là trung tâm của việc học tập. thầy nói - trò nghe, do đó chưa phát huy tính tích cực, sang tạo của học sinh. Bên cạnh đó, các mô hình dạy học theo chủ đề, mô hình giáo dục STEM, mô hình học tập trực tuyén,.
dang là những mô hình hoc tap có nhiều mặt tích cực, song vì một số hạn chế nên chưa được chú trọng và chưa đạt được những hiệu quả mong đợi. Một mô hình học tập muốn đạt được hiệu quả cao phải là một mô hình có thể phát huy những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm của các mô hình học tập khác. Do đó mô hình học tập tích hợp của day học theo dự án (Project Base Learning — PBL), Giáo dục STEM và Học tập trực tuyến (E - Learning — EL) là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn. Với mô hình học tập tích hợp này, học sinh sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc thực tiễn và kỹ năng sử dụng các công cụ công nghệ thông tin.
Với vai trò là một giáo viên đang giảng dạy môn tin học tại một trường Trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đề xuất xây dựng “M6 hình tích hợp E-PB Learning và STEM cho đào tạo bậc trung học cơ sở (Mô hình E-PBL STEM)” nhằm hỗ trợ cho phương pháp giáo dục truyền thống cũng như xây dựng hướng đi lâu dài cho phương pháp dạy học tích cực ở Việt Nam với công cụ công nghệ thông tin đang phát triển từng giờ. Mục đích nghiên cứu — Xây dựng Mô hình E-PBL STEM. — Xây dựng Hệ thống tích hợp E-PB Learning và STEM cho đào tạo bậc trung học cơ sở (Hệ thong E-PBL STEM) trên Sakai. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu — Đối tượng: học sinh Trung học cơ sở (THCS), giáo viên.
— Phạm vi: hoạt động day học theo dự án, giáo dục STEM va dạy học trực tuyển trong các môn liên quan đến khoa học tự nhiên tại các trường THCS. Phương pháp nghiên cứu ~ Nghiên cứu lý luận * Nghiên cứu phương pháp day học theo dự án (Project Based Learning). * - Nghiên cứu phương pháp học tập trực tuyến (E-Learning). * _ Nghiên cứu giáo dục STEM.
* _ Nghiên cứu sách giáo khoa của cấp THCS. — Điều tra, quan sát Thăm do, trao đôi ý kiến với các giáo viên trong các trưởng, các câu lạc bộ, trung tâm dé hiểu thực trạng day học theo dự án, giáo dục STEM, dạy học trực tuyến, cũng như cách xây dựng các đoạn phim, chủ đề. — Thực nghiệm * Trién khai Hé thong E-PBL STEM * Tiến hành thực nghiệm ở trường trung học cơ sở dé kiểm tra tinh kha thi của luận văn, làm nôi bật vai trò của việc xây dựng Mô hình E-PBL STEM nhằm phát huy tính tích cực, phát triển năng lực tự học, gắn liên lý thuyết với thực hành và giải quyết van dé của học sinh. Đóng góp của đề tài — Xây dựng được Mô hình E-PBL STEM.
~ Xây dựng được Hệ thong E-PBL STEM. — Hỗ trợ giáo viên tạo ra các bài học hap dan, có tính sáng tạo. — Hỗ trợ học sinh kiến thức về khoa học. toán học dé giải quyết các van dé thực tiễn trong cuộc sống.
Hiện trạng giáo duc trung học cơ sở Như phan đề xuất đã nói, Mô hình tích hợp E-PB Learning và STEM được áp dụng cho bậc Trung học cơ sở thay vì bậc Tiêu học hay Trung học phô thông. Ở bậc Tiéu học, các em học sinh còn khá nhỏ đẻ có thé hiểu và tiếp thu kiến thức cũng như kỹ năng theo mô hinh học tập mới nay, sự thay đôi từ mô hình học tập truyền thống sang mô hình học tập tích hợp quá nhanh sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, nếu bắt đầu áp dụng mô hình mới này ở bậc Trung học phô thông thì khá trễ, vì đây là giai đoạn các em nên định hướng được nghé nghiệp cho mình. Vi thé cần có một giai đoạn trung gian dé các em học sinh hiểu được mình muốn gi, mình yêu thích và thích hợp với môi trường nao, từ đó có được định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
Thời đại công nghệ thông tin bùng nỗ, khoa học không ngừng được phát triển, giáo dục cũng như mọi môn khoa học khác không thé nằm ngoài quy luật đó. Trước nhu cầu phát triển của nén kinh tế hiện nay đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo nguồn nhân lực vừa năng động. sáng tao vừa có thé tự lực và có kỹ năng làm việc nhóm dé giải quyết tốt các vấn đẻ thực tiễn. Theo định hướng đổi mới, Nghị quyết số 29 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đôi mới căn bản, toản diện Giáo dục và Đào tạo, ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, hoan thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới giai đoạn sau năm 2015.
Đồng thời Nghị quyết cũng đưa ra định hướng đôi mới căn bản, toàn điện Giáo dục và Đảo tạo, hướng đến mục tiêu cụ thê nâng cao chất lượng giáo dục toản điện, phát triển năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời [11]. Với mục tiêu của giáo dục, trong những năm vừa qua, giáo dục THCS có những bước phát triển, có những thanh tựu đáng ghi nhận nhưng đồng thời cũng đang an chứa rat nhiều yêu kém, bat cập [14]. Giáo dục chỉ lo đào tạo số lượng học sinh đầu ra mà không quan tâm đến van dé chat lượng. Hang loạt học sinh tốt nghiệp THCS mỗi năm mà không hè có kỹ năng thực hành, năng lực tự học, tư duy sáng tạo và kỹ năng giao tiếp [14].
Nội dung chương trình học còn lạc hậu, chưa theo kịp tư duy đổi mới, chưa theo kịp sự tiền bộ của khoa học kỹ thuật, chưa theo kịp những kỹ năng của thé kỷ 21 nên khó phát huy được tính sang tao, năng lực thực hành của học sinh [14]. Giáo dục THCS có một số đổi mới trong phương pháp giảng dạy, tuy nhiên phương pháp giáo dục truyền thống vẫn chỉ phối mạnh ở các trường THCS trong cả nước. Điểm mạnh của phương pháp giáo dục truyền thông là phù hợp với những nơi cơ sở vật chất, phương tiện dạy học còn thiếu thôn, số lượng học sinh đông, trình độ học sinh còn yếu kém. Tuy vậy, với giáo dục THCS hiện nay, phương pháp truyền thống vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi từ xã hội, vẫn đang lấy thay làm trọng tâm, học trò chỉ nhận những kiến thức từ sự truyền tải của thầy.
Hậu qua của phương pháp giảng day cũ dẫn đến sự thụ động của người học trong việc tiếp cận tri thức. Sự thụ động này là nguyên nhân tạo cho người học sự trì trệ, ngại đọc tài liệu, ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyết trình, lười tư duy và thiểu tính sáng tạo trong tư duy khoa học [20]. Đây chính là một trong những yếu tố gây cho xã hội không phát triển được. Với phương pháp giáo dục lý thuyết nhiều hơn thực hành, đã làm mai một sự sáng tạo, chủ động của học sinh.
Các em vẫn đạt được các điểm số rất cao nhưng khi bắt tay vào thực tế thì không vận dụng được những lý thuyết đã học. Từ hiện trạng giáo đục Việt Nam và nhìn ra thé giới. Trong những thập kỷ qua, thé giới đã nghiên cứu và thực hiện rất nhiều phương pháp giáo dục đôi mới, hiện đại. mang tính khoa học, thực tiễn, giúp các học sinh sáng tạo, hứng thú và chủ động trong học tập.
Chúng ta thay rang “Học tập là một chặng đường dai.