CHƯƠNG I: TỐNG QUAN 1. Kiên thức chung về chấn thương 1. Định nghĩa Theo định nghĩa mới đây và được chấp nhận rộng rãi thì ch ấn th ương là: "Tổn thương của cơ thể (có chủ định và không chủ định) gây nên bởi sự phơi nhiễm cáp đôi với năng lượng mang tính gáy tổn thương (cơ học, điện, nhiệt, hoá học.) hay b ởi s ự thi ếu vắng đột ngột của các yêu tô thiết yếu (ví dụ: thiếu ô xy trong chết đuôi, sức nóng gáy chấn thương, hay do giảm nhiệt) [1]. Định nghĩa này bao trùm toàn bộ nhóm bệnh thứ XIX của hệ thống phân loại bệnh tật ICD10 [6], Chấn thương không phải là tai nạn.
Sự tiến triển của các quan niệm về châh thương, được phản ánh theo cách mà chúng được phân loại. Trước kia chấn thương được phân loại một cách truyền thống là do tai nạn hay chủ ý. Đầu tiên việc kiểm soát châh thương tập trung vào "phòng ngừa tai nạn", còn bạo lực có chủ ý được giành cho pháp luật và các nhà tám thần, xã hội học. Điều này không có ý nghĩa với các ngành nghề trên, khỏng góp phần vào việc kiểm soát chấn thương, tất cả những cố gắng trên nhàm phòng ngừa tai nạn đều không thành công.
Những phạm vi điéu tra khoa h ọc v ề tính hiệu quả cùa cách tiếp cận này đều rất hạn chê. Tai nạn liên quan đến một tập hợp rất lớn. không rõ ràng của các sự kiện, mà chi một phần nhỏ của những sự kiện này mang tính chấn thương. Tai nạn là một sự kiện khóng chu ý.
ngẫu nhiên can thiệp vào công việc hàng ngày của ai đó. Nó xảy ra không mong đợi. khóng theo ý muốn hay "không may". ị, 5 Nhiều chuyên gia y tế công cộng cho rằng, việc sử dụng rộng rãi thu ật ng ữ "tai nạn" khóng những chỉ gây nên những nhầm lẫn đáng báo động, mà còn kìm hãm các cố gắng làm giảm chấn thương.
Thực tế điều này xảy ra như vây, vì nhiều người cho rằng, hay nghĩ rằng "tai nạn" là một cái gì đó, tồn tại ngẫu nhiên, không thể dự đoán tr ước, chính vì vậy mà không phòng ngừa được. Nghĩa rộng, tai nạn là hậu quả bất cẩn của con người mà người bị chấn thương lấy đó đổ lỗi cho nó đã gây chấn thương cho h ọ. Ch ỉ một cặp từ đơn giản, nhưng lại mang những ý nghĩa khác nhau ở những con người khác nhau. Từ sự tin tưởng đây là số mệnh, không thể tránh được cho đến ý tưởng tán thành một cách rộng rãi cho rằng đó là những "sự kiện" hay "hiện Íỉ/Ợ7zg"chấn thương, có thể phòng ngừa và kiểm soát được theo nhiều cách.
Sử dụng khái ni ệm ch ấn th ương và phòng ngừa chấn thương, thay cho tai nạn và phòng ngừa tai n ạn, có th ể giúp cho m ọi người hiểu những khái niệm và thủ tục cần thiết, để thiết kê' những công trình phòng ngừa chấn thương có hiệu quả hơn. Trong thực tế. những sự kiện gây t ổn th ương cho con người không ngẫu nhiên, có những yếu tô nguy cơ có thể phân biệt được, nó gắn với sự tác động qua lại giữa con người, phương tiện giao thống, trang thiết bị, các quá trình, môi trường, cơ thể và xã hội. Phán loại chấn thương Sơ ĐỐ 1 6 * Chân thương không có chù định: Chấn thương không có chủ định là chấn thương không có chủ ý c ủa người bị chấn thương hoặc người khác, ví dụ rai nạn ô tô, xe máy, ngã, chết đuối.
Thuật ngữ "tai nạn" thường được sử dụng rộng rãi khi người ta bàn về chấn thương không có ch ủ định. Tuy nhiên sự ám chỉ của thuật ngữ, cho rằng sự may r ủi mang tính ng ẫu nhiên đóng vai trò chính thức, thường ít khi đúng. Chấn th ương không có ch ủ đ ịnh khi mà không có sự cô' ý nào, nhưng thường vẫn có các yếu tố con người tham gia vào. Những yếu tố này có thể tìm thấy cả ở người bị chấn thương và những người trong cộng đồng.
Những yếu tố thuộc về hành vi con người (ví dụ trạng thái tình cảm, sử dụng chất ma tuý làm thay đổi ý nghĩ.) đều đóng vai trò nhất định trong ch ấn th ương ch ủ đ ịnh và không chủ định. * Chấn thương có chủ định. Chấn thương có chủ định là châh thương gây nên có sự chủ ý của người bị chấn thương hay của cả những người khác, ví dụ tự tử, giết người, đánh nhau, hành hạ trẻ em. người già.
Các yếu tô nguy co Trên thê giới, khoảng 80% gánh nặng gây chấn thương nằm ở các nước đang phát triển. Tý lệ chấn thương cao không chỉ là do sự bùng nổ về dân số, đo thị hoá. công nghiệp hoá mà còn bởi sự nghèo đói. Nhìn chung, tỷ lệ chấn thương cao thường gặp ở các nhóm dán cư có đời sống kinh tê' - xã hội thấp, ơ các nước đang phát triển, chấn thương thường được nhìn nhận như là một hậu qua tất yêu.
khó có thê tránh khỏi của sự thay đổi công nghệ, phát triển kinh tê' và đó thị hoá nhanh. Trong cách nhìn bao quát chung về cả mặt thương nghiệp vã cong nghiệp, những thu nhập trước mắt về mặt kinh tê' thị trường có nhiều giá trị. hay ành hưởng hơn các chi phí mà tử vong và tàn tật bởi chấn thương gảy nên. Do chịu sự bất lợi vé mặt kinh tê - xã hội và chính trị nên những người dán ở các nước đang phát triển, hàng ngày phải sống với các nguy cơ chấn thương mà không thể chấp nhận được các nước phát triển.
7 Từ những năm giữa của thập kỷ 80, việc áp dụng các phương pháp dịch tễ học vào trong các nghiên cứu chấn thương, đã làm tâng lên sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ của chấn thương. Cũng như các nhóm đích trong việc phát triển chiên l ược phòng ngừa và kiểm soát chấn thương. Đáng tiếc, phần lớn các cô gắng trên chỉ tập trung ở các nước có thu nhập cao, các nước phát triển và chi một số ít ở các nước có thu nhập thấp hay đang phát triển. BANG 1: CAC YỂU TÓ NGUY cơ LựA CHỌN KẾT HỢP VỚI sự KIỆN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Sự KIỆN CHẤN THƯƠNG va đập (ô, YỂU TỐ NGUY Cơ Đánh Lửa Sốc điện mô tô) Ngã Chết đuối Ngộ độc nhau - Nam Không Có Có Có Có Có Không - Tuổi - Dưới 15 tuổi Có Không Không Có Không Có Có -15-64 tuổi Không Có Có Không Có Không Có -Từ 65 tuổi trở lén Không Khống Không Có Không Không Khõng Tinh trạng kinh tê' xã hội thấp Có Khống Không Không Có Không Không Sử dụng rượu Có Không Có Có Có Có Có Rối loạn tâm thẩn Có Không Không Có Có Có Có Giáo dục về an toàn thấp Có Có Có Có Không Có Có * Các veil tỏ nguy cơ từ môi trường - Tác nhân vật lý: Điện, nhiệt.
bị đánh, thể thao, giao thông. - Hoá học: Trong công nghiệp, phòng thí nghiệm, hoá chất bảo vệ thực vật. - Sinh học: Ngọ độc thức ăn, nhiễm nấm độc. - Không gian chật hẹp.
điểu kiện lao động và sinh hoạt. 8 * Các yếu tô nguy cơ từ con người - Yếu tố bệnh lý: Mệt mỏi trong lao động, học tập, mắc một số bệnh mãn tính. - Yêu tố tâm lý xã hội: Sự căng thẳng thần kinh, tâm lý như lao động quá t ải, công việc đơn điệu, học quá nhiều, tiến thủ trong công việc, các quan h ệ trong gia đình và xã hội không tốt. - Kiến thức, kinh nghiệm, hành vi.
- Đặc tính cá nhân: Không cẩn thận, cẩu thả trong công việc. - Thời gian cuối buổi học mệt mỏi, thời gian nghỉ ít. - Tuổi đời, bậc thợ. kỹ năng, kỹ thuật, trình độ văn hoá.
Các nguyên nhân gáy chấn thương [6] Nhìn chung những nguyên nhân dẫn đến gây chấn thương ở các nước đang phát triển, thường do các nguyên nhân xếp theo thứ tự giảm dần, theo mức độ trầm trọng: + Chân thương do giao thông + Ngã + Ngộ độc + Chết đuối + Bỏng + Tự tử + Giết người Ty lệ đặc trưng theo nguyên nhân, thay đổi theo từng nước, các loại chấn thương chính trên thế giới, cả ở các nước phát triến và các nước đang phát triên. thường là chận thương liên quan đến giao thông, ngã, chết đuối, ngộ đôc. Hậu quả của chấn thương Theo tổ chức y tế thế giới thì chấn thương là một trong những nguyên nhân nhập viện hàng đầu, là nguyên nhân chính gây tàn phế, làm m ất kh ả năng s ống ti ềm tàng. Chấn thương chiếm 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Trên toàn th ế gi ới, trung bình mỗi năm có khoảng 4,2 triệu người tử vong có liên quan đến chấn th ương [35], Chấn thương là đại dịch, xảy ra ở các nước phát triển và đang phát triển. Theo Gratcer, mỗi năm có khoảng 3,4 triệu người tử vong tại các nước đang phát tri ển, kho ảng 800.000 người tử vong tại các nước phát triển do các loại chấn thương gây nên [35]. Trên toàn thế giới, mỗi năm chấn thương làm cho khoảng 78 triệu người trỏ' nén tàn phế [51]. Tại Ân Độ, tỷ lệ tử vong do phương tiện giao thông có động cơ tăng gấp đồi từ 1957 đến 1979.
Còn ở Zambia, tỷ lệ tử vong do phương tiện giao thông có động cơ tăng gấp 3 lần trong 10 năm gần đây. Tại Ai Cập, chấn thương là nguyên nhân thứ hai trong các nguyên nhấn nhập viện. Tại Trung Quốc, Ai Cập và Mỹ, các nguyên nhân gây nén chấn thương chủ yếu là do các phương tiện giao thóng có động cơ (chủ yếu là do ó tô), sau đó là các nguyên nhân do ngã. bỏng, chét đuối, tự tử, giết người [51].
Theo thông báo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC Atlanta, Mỹ trong năm 1995 các trường hợp tử vong có liên quan đến chấn thương chiếm 6% trong tòng số tử vong, ơ người trẻ tuổi, chấn thương gáy nên tử vong cao hơn bệnh tật và các nguyên nhân tự nhiên khác. Nếu các nguyên nhân tử vong do súng nô giam thì các nguyên nhân tử vong do giao thông tăng (CDC Atlanta. Về kinh té. các chi phí hàng năm của xã hội và y tế cho chấn thương ước tính trên 500 tyđó la.
Các chi phí cho các dịch vụ cấp cứu và cho việc tiếp tục điéu trị. phục hổi chưc nàng, mất khả nàng lao động do tử vong và tàn tật do chán thương gá\ nén rát lớn. Người ta ước tính rằng, chi phí cho điều trị mỗi trường hợp tử vong ở Mỹ vào khoảng 317.