phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan các nghiên cứu về điều chỉnh mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế Chƣơng 3. Điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới hai đến nay Chƣơng 4.
Bài học kinh nghiệm từ quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản và một số hàm ý đối với Việt Nam 10 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1. Những nghiên cứu về nền kinh tế Nhật Bản từ cuối thập kỷ 1990 đến nay Những thập niên cuối thế kỷ XX, nhất là những năm 1990, kinh tế Nhật Bản suy thoái trầm trọng, các tập đoàn kinh tế gặp nhiều khó khăn lớn, phải vật lộn, tìm cách vƣợt lên. Giới nghiên cứu quan tâm, chia sẻ với thực tế này.
Đã xuất hiện những công trình nghiên cứu đề cập đến giai đoạn nhiều cam go của tập đoàn kinh tế Nhật Bản, đáng chú ý là một số công trình sau đây: S. Trong ấn phẩm này, tác giả Kwan - chuyên gia nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Tổng hợp Nomura, đã phân tích về mối quan hệ giữa sự biến động tỷ giá Yên, Đôla với tỷ lệ gia tăng đầu tƣ trực tiếp của Nhật Bản sang Đông Á (NIEs, bốn nƣớc ASEAN, Trung Quốc) và tỷ lệ tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc này từ năm 1982 đến năm 1987. Stiglitz và Shahid Yusuf (2002), Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á, Ngân hàng thế giới. Chƣơng 2 và Chƣơng 3 của cuốn sách xuất bản năm 1993 đã phân tích hiện trạng tăng trƣởng và khủng hoảng của kinh tế Đông Á, trong đó có Nhật Bản; dự báo khả năng phục hồi của kinh tế Đông Á; gợi mở con đƣờng thay đổi và tăng trƣởng công nghệ ở các nƣớc Đông Á, trƣớc hết trong các tập đoàn kinh tế.
Trong ấn phẩm xuất bản năm 2002 có điều chỉnh, bổ sung một số nhận xét, đánh giá về sự phát triển thần kỳ của Đông Á. Mặc dù, sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế ở Nhật Bản buộc các nhà nghiên cứu phải suy ngẫm về những mặt chƣa hợp lý, còn bất cập của mô hình các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, song, một số nhà nghiên cứu vẫn khẳng định những 11 z tiềm năng to lớn, nhất là về khoa học công nghệ, của các doanh nghiệp Nhật Bản và khả năng tự điều chỉnh, tự đổi mới của các tập đoàn kinh tế trong bối cảnh mới. Mirey a Solís, Banking on Multinationals (2004), Public Credit and the Export of Japanese Sunset Industries (Dựa vào công ty đa quốc gia: Tín dụng công và xuất khẩu của những ngành công nghiệp đang suy thoái của Nhật Bản), Stanford: Stanford University Press. Ấn phẩm đã nêu ra và trả lời 2 câu hỏi chủ yếu trong chính sách công nghiệp Nhật Bản: Tại sao Nhật Bản - đƣợc biết đến là có nỗ lực trong việc kiểm soát thị trƣờng, bảo vệ những ngành công nghiệp non trẻ, và luôn gia tăng xuất khẩu quốc gia - lại thực hiện chƣơng trình công nghiệp lớn nhất thế giới để hỗ trợ cho việc mở rộng sự hợp tác của các công ty đa quốc gia? Tại sao Nhật Bản không lo sợ thất bại trong việc kiểm soát sự hợp tác đa quốc gia và sự xói mòn nền tảng xuất khẩu nội địa thông qua FDI với 3 nội dung: Đầu tƣ trực tiếp Nhật Bản trong viễn cảnh lý thuyết và so sánh; quan điểm chính trị của chính sách công nghiệp và sự hợp tác của các công ty đa quốc gia Nhật Bản và nghiên cứu trƣờng hợp của sự điều chỉnh công nghiệp và FDI.
Hibino Shozo (2009), Tư duy đột phá. Tập quán tư duy của Toyota, NXB Trẻ. Thông qua tƣ duy kinh doanh luôn đổi mới, đáp ứng nhu cầu mọi thị trƣờng, mọi hoàn cảnh của Toyota, tác giả khẳng định bản lĩnh và tầm trí tuệ của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản trƣớc những biến động của kinh tế thế giới, đất nƣớc. Top Managemnet Forum (2009), Management Innovation for Productivity Improvement in the Service Sector , Asia Productivity Organization, Tokyo.
Tập hợp những bài thuyết trình của các nhà lãnh đạo APO (các chuyên gia hàng đầu đại diện các tập đoàn dịch vụ nổi tiếng đã giới thiệu và cung cấp các ví dụ điển hình về các mô hình quản lý đã đƣa các tập đoàn Nhật Bản tới thành công trên thị trƣờng trong nƣớc, quốc tế) tại hội nghị thƣờng niên tổ 12 z chức ở Tokyo, Nhật Bản - đƣợc công bố trong ấn phẩm này đã minh chứng sức mạnh tiềm tàng của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản ngay cả trong những năm tháng sóng gió. Yoshiaki Takahashi (2009), Quản trị kinh doanh học và quản trị doanh nghiệp tại Nhật Bản, NXB Tri thức.Trong cuốn sách này, tác giả trình bày nhiều vấn đề, trong đó đề cập đến cơ cấu tổ chức trong các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản đang đƣợc chuyển đổi mạnh mẽ theo hƣớng đa dạng hoá, mềm dẻo hoá; xu hƣớng tập đoàn hoá và tái cơ cấu tổ chức trong các tập đoàn; tiến trình đa quốc tịch hoá của các doanh nghiệp Nhật Bản. Các công trình của Hibino Shozo, của APO 2009, của Yoshiaki Takahashi … đã góp một cách nhìn khách quan, giúp nhận diện một cách đầy đủ, toàn diện hơn về diện mạo các doanh nghiệp Nhật Bản trong một thập niên trở lại đây, đồng thời cũng gợi mở những xu hƣớng tự điều chỉnh, tự đổi mới của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, cho phép có thể dự báo về triển vọng phát triển của các tập đoàn trong tƣơng lai không xa. Vẫn theo hƣớng nghiên cứu này đã đƣợc các tác giả bàn luận thông qua nhiều Hội thảo đƣợc tổ chức ở Việt Nam và nƣớc ngoài.
Đó là: Ariyoshi Akira (2012), Bài học từ bong bóng tài sản của Nhật Bản, tham luận tại Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý kinh tế vĩ mô, Bộ Tài chính Việt Nam, Hà Nội, 24/7/2012. Nagase Toshio (2012), Chia sẻ một số kinh nghiệm của Nhật Bản về giải quyết nền kinh tế bong bóng và tái cơ cấu công nghiệp, tham luận tại hội nghị của Nhóm đối tác về quản lý tài chính công, Hà Nội, 31/5/2012.Naito Junichi (2012), Bài học của Nhật Bản từ kinh nghiệm khủng hoảng tài chính, tham luận tại Hội thảo tại Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 5/5/2012.Wada Yoshio (2012), Gợi ý từ kinh nghiệm của Nhật Bản: loại bỏ nợ xấu thông qua khôi phục tài chính và công nghiệp sau khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ, tham luận tại Civil Service College, Singapore, 7/3/2012. 13 z Từ những công trình nghiên cứu trên, dù chƣa thật đầy đủ, song đã chỉ rõ những khó khăn, thách thức mà kinh tế Nhật Bản phải đối mặt. Điều này sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các công ty Nhật Bản, nhất là các Tập đoàn lớn của nƣớc này.
Những nghiên cứu về mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản Từ cuối những năm 1960 đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, thậm chí đến đầu những năm 2000, đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về sự thành công của kinh tế Nhật Bản nói chung, của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản nói riêng. Có thể kể đến các công trình: Michaelis and Me Keown (1969 ); 20th Century Asia ( Châu Á thế kỷ XX ), Me Graw – Hill; Ono Toyoaki (1979): Chiến lược tổ chức của doanh nghiệp Nhật Bản (日本企業の組織戦略); William Ouichi (1987): Mô hình quản lý xí nghiệp Nhật Bản, thuyết Z, Viện Kinh tế thế giới xuất bản; James C, Alegglen Stak (1988 ): Kaisha Công ty Nhật Bản, Viện Kinh tế thế giới xuất bản, tập II; J. Schonberger (1989): Người Nhật quản lý sản xuất thế nào? Nxb Khoa học xã hội; V. Ladanov (1989 ): Người Nhật, Nxb Tổng hợp Hậu Giang; Yutaka Kosai (1991): Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh – những nhận xét về nền kinh tế Nhật sau chiến tranh, Viện Kinh tế thế giới xuất bản; Pierre Atoine – Donnet (1991 ): Nước Nhật mua cả thế giới, Nxb Thông tin – Lý luận, HN; Joseph E.
Stiglitz và Shahid Yusuf ( 1993 ): Sự thần kỳ Đông Á – Tăng trưởng và chính sách công, Ngân hàng Thế giới; Liên đoàn các tổ chức Kinh tế Nhật Bản ( Keidanren, 1995 ): Quản lý kiểu Nhật thời đại mới, Tokyo,.Đóng góp của các công trình đƣợc công bố là đã phản ánh một cách sinh động sự đi lên của một quốc gia kiệt quệ sau chiến tranh, song đã vƣợt lên chính mình để nhanh chóng phục hồi và trở thành một trong những nền kinh tế hàng đầu của thế giới. 14 z Trong số các công trình viết về mảng vấn đề này, đáng chú ý một số công trình nổi bật. Whitehill (1996), Quản lý Nhật Bản: truyền thống và quá độ, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia xuất bản. Ấn phẩm gồm 4 phần với 14 chƣơng, trong đó phần 1 tác giả đề cập đến Nhật Bản với những dấu ấn của lịch sử, Phần 2 là bối cảnh Nhật Bản hiện đại, Phần 3 là Quá trình quản lý và Phần 4 là Nhật Bản trong viễn cảnh tƣơng lai.
Đặc biệt ở phần 4, tác giả đã đề cập đến những thách thức hiện nay đối với vấn đề quản lý theo kiểu Nhật Bản, và cuối cùng là nội dung Nhật Bản trong “Kỷ nguyên Thái Bình Dƣơng”. Đây có thể coi là một công trình “cẩm nang” về quản lý của Nhật Bản trong đó đã chỉ rõ những đặc trƣng cơ bản nhất của mô hình có một không hai trong giai đoạn „thần kỳ” của Nhật Bản. Shinichi Ichimura (1999), Kinh tế chính trị của sự phát triển của Nhật Bản và Châu Á, Nxb Thống kê; Đóng góp nổi bật và có giá trị nhất của công trình này là đã khái quát và phân tích một cách toàn diện sự phát triển của đất nƣớc Nhật Bản từ kinh tế đến chính trị, xã hội; nghiên cứu các vấn đề của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ, kinh tế ở Châu Á và những hậu quả của cuộc khủng hoảng này. Taylor, Shaoming Zou, Gregory E.
Osland (1999), Các chiến lược gia nhập thị trường nước ngoài của các Công ty đa quốc gia Nhật Bản (Foreign market entry strategies of Japanese MNCs), International Marketing Review. Các tác giả đã nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng lớn nhất đến các quyết định gia nhập thị trƣờng nƣớc ngoài của các công ty đa quốc gia Nhật Bản. Đây là một công trình chuyên sâu xem xét cách thức xâm nhập của các công ty Nhật Bản ra thế giới.