đặt vấn đề môi trường và phát triển bền vững xuống Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 6 Cao học môi trường K18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga hàng thứ yếu, sự hạn chế về năng lực và yếu kém đi cùng thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý tài nguyên và môi trường cũng đã góp phần làm gia tăng những hiểm họa về suy thoái chất lượng nước, đặc biệt ở các thành phố lớn [4]. Môi trường nước sông tại vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Bắc Trong số con sông đã khảo sát (sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Bạch Đằng, sông Cầu) không có con sông nào đạt quy chuẩn nước mặt loại A1 (nguồn cung cấp nước sinh hoạt), một số sông (sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cà Lồ) không đạt quy chuẩn nước mặt loại B1 (dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi) do có các thông số BOD5 và COD vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT [4]. Môi trường nước sông tại vùng KTTĐ miền Trung Các con sông lớn trong vùng chảy qua các khu công nghiệp và đô thị có hàm lượng các chất ô nhiễm tập trung cao ở phía hạ lưu: hàm lượng COD và BOD5 đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1, phần lớn các kim loại nặng và các muối dinh dưỡng đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 [4]. Nước thải tại các khu công nghiệp được quan trắc có hàm lượng chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, Coliform, Nitơ tổng số vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP).
Nước thải tại các khu đô thị: độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng, hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng N-NH4+ , Nitơ tổng vượt TCCP [4]. Môi trường nước sông tại vùng KTTĐ phía nam Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông: là lưu vực chịu ảnh hưởng ít nhất của nước thải công nghiệp trên toàn vùng KTTĐ phía Nam, tuy nhiên chất lượng nước tại đây cũng đã có dấu hiệu ô nhiễm. Ở một vài điểm, COD và hàm lượng chất dinh dưỡng đó vượt QCVN 08:2008/BTNMT loại B [4]. Lưu vực sông Sài Gòn: Chất lượng nước liên quan chặt chẽ đến sức khỏe cộng đồng.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, 80% bệnh tật ở con người xuất phát từ việc sử dụng nguồn nước không sạch và vệ sinh môi trường kém. Hiện nay, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 7 Cao học môi trường K18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga nguồn nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng chủ yếu là nước máy đã qua xử lý từ nguồn nước thô lấy tại sông Sài Gòn - Đồng Nai, và một phần trên kênh Đông. Trong nhiều năm qua, hệ thống quan trắc, giám sát chất lượng nước cấp cho sinh hoạt đã được đặt tại các trạm thượng lưu sông Sài Gòn như Bến Củi, Bến Súc, Thị Tính và Phú Cương, hai trạm khác là Hóa An đặt trên sông Đồng Nai và trạm N46 trên kênh Đông. Các kết quả quan trắc cho thấy một số chỉ tiêu đạt chuẩn cho phép như: Nhu cầu oxy sinh học, nhu cầu oxy hóa học, độ mặn, chỉ tiêu kim loại nặng, chỉ tiêu nitơ đạt quy chuẩn cho phép.
Nhưng nhiều chỉ tiêu như: pH, độ đục, nồng độ chất rắn hòa tan trong nước, oxy hòa tan, nồng độ dầu và vi sinh vật tại hầu hết các trạm quan trắc vượt mức cho phép. Để đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho hơn 7 triệu dân thành phố, cần phải có giải pháp hữu hiệu khống chế nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải, giảm tải lượng chất ô nhiễm đổ xuống sông Sài Gòn. Không cấp phép đầu tư cho các dự án thuộc nhóm ngành có gây ô nhiễm cao như: Hóa chất, cao su, sản xuất bột giấy, chế biến thực phẩm… trên khu vực thượng nguồn. Giải pháp di dời trạm lấy nước cung cấp cho sinh hoạt lên phía thượng nguồn cũng đang được bàn tới nếu tình trạng ô nhiễm của sông Sài Gòn [4].
Lưu vực sông Đồng Nai và Thị Vải: là nơi tập trung của nhiều khu công nghiệp, đặc biệt là các khu công nghiệp, các nhà máy đã hình thành khá lâu đời. Tuy nhiên, mức độ tập trung các nhà máy gây ô nhiễm nghiêm trọng như sản xuất phân bón, hóa chất… chủ yếu tập trung ở phía hạ lưu và nhánh sông Thị Vải trong đó đáng chú ý là khu công nghiệp Phú Mỹ 1 và Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam là hai đơn vị xả thải các chất gây ô nhiễm môi trường cao nhất. Các thông số ô nhiễm như hữu cơ, chất rắn lơ lửng, vi sinh… vượt quy chuẩn cho phép hàng chục, thậm chí hàng trăm lần [4]. Ngoài ra, nước thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị, khu dân cư đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước tại các dòng sông nói riêng và các nguồn Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 8 Cao học môi trường K18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga nước nói chung tại các vùng KTTĐ.
Hiện nay, tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hòa và một số các khu đô thị đã bắt đầu tiến hành quy hoạch và xây dựng các hệ thống xử lý nước thải cho khu dân cư. Tuy nhiên, một số dự án đã triển khai nhưng tiến độ chậm và chưa đạt hiệu quả mong muốn [4]. Khái quát một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội lưu vực sông Nhuệ 1. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lý và diện tích Sông Nhuệ nằm giữa đồng bằng Bắc bộ, phía Bắc lưu vực sông Nhuệ là sông Hồng, phía Tây là sông Đáy, phía Nam là sông Châu Giang. Sông chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội và hai huyện của tỉnh Hà Nam [12]. Diện tích của toàn bộ lưu vực là 107.530 ha, trong đó: Hà Nội chiếm 87.820 ha và tỉnh Hà Nam chiếm 19. Lưu vực sông Nhuệ có hướng dốc từ Bắc xuống Nam là nguồn cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và thoát nước của thành phố.
Tình hình phân bố diện tích các quận, huyện trong lưu vực sông Nhuệ [12]. Phân bố diện tích trong lưu vực sông Nhuệ Diện tích (ha) TT Quận, Huyện Tổng số Trong lưu vực 1 Từ Liêm 7.697 3 Nội thành Hà nội 8.008 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 9 Cao học môi trường K18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga 4 Đan Phượng 7.047 13 Thành phố Phủ Lý (Hà Nam ) 3. Đặc điểm địa hình Lưu vực sông Nhuệ nằm hoàn toàn trên vùng đồng bằng thấp thuộc châu thổ sông Hồng, không có đồi và núi. Địa hình có dạng lòng máng cao ở phần sông Hồng, sông Đáy và thấp dần vào trục sông Nhuệ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Độ cao của khu thượng nguồn sông Nhuệ ở Từ Liêm khoảng 5-7m, tại khu lân cận quận Hà Đông cao 4-7m, khu Thường Tín cao 1,1-3,5m. Độ dốc của lòng sông Nhuệ có cao độ mặt phổ biến từ +2,0 đến +6,0 m. Cao trình biến đổi từ +1,0 m đến + 9,0 m. Vùng ven sông Hồng và sông Đáy là đất cát lẫn phù sa mịn, hoặc đất cát pha thịt, biến đổi dần sang đất thịt pha cát và tới khu vực lân cận sông Nhuệ là đất thịt, đất thịt pha sét.
Từ cao trình +2,5 m trở lên, đất thuộc loại trung tính, ít chua, độ pH từ 5,5 - 6,0 chiếm khoảng 70% diện tích lưu vực. Phần đất trũng thấp hơn +1,5m tập trung ở hạ lưu vực, đất bị chua, độ pH thấp hơn 5,5 một số nơi có hiện tượng gây - sét hoá do bị ngập nước thường xuyên [12]. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 10 Cao học môi trường K18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga 1. Đặc điểm khí hậu, thủy văn a.
Đặc điểm khí hậu Lưu vực sông Nhuệ có nền khí hậu mang đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khí hậu miền Bắc Việt Nam đó là nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, có gió mùa đông nam; mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến thánh 4, có gió mùa Đông Bắc [12]. - Chế độ nắng: Lưu vực sông Nhuệ nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 105 - 120 kcal/cm2 và có số giờ nắng thuộc loại trung bình, đạt khoảng 1600-1750 giờ/năm, trong đó tháng 8 có số giờ nắng nhiều nhất đạt 200-230 giờ/tháng và tháng 2, 3 có số giờ nắng ít nhất khoảng 25-45 giờ/tháng. Chế độ nắng cũng giống như chế độ nhiệt, nó ảnh hưởng đến tốc độ và dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ và nồng độ oxy hòa tan trong nước [12]. - Chế độ nhiệt: Chế độ nhiệt phân hóa rõ rệt theo đai cao trong lưu vực sông Nhuệ.
Nhiệt độ trung bình năm ở vùng thấp đạt từ 25 - 270C, ở vùng đồi núi phía Tây và Tây Bắc nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 240C. Mùa đông nhiệt độ trung bình ở vùng cao giảm xuống còn 16 - 190C, mùa hè trung bình khoảng 220C; còn ở vùng thấp mùa đông nhiệt độ trung bình 18 - 200C, mùa hè từ 27 - 300C. Trong trường hợp cực đoan, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 400C, và nhiệt độ tối thấp có thể xuống tới dưới 90C. Chế độ nhiệt của nước phụ thuộc vào chế độ nhiệt của không khí đã ảnh hưởng đến các quá trình hóa lý xảy ra trong nước, nó ảnh hưởng đến đời sống các vi sinh vật và vi khuẩn sống trong nước [12].
- Chế độ gió: Mùa đông gió có hướng thịnh hành là Đông Bắc, tần suất đạt 60-70%. Một số nơi do ảnh hưởng của địa hình, hướng gió đổi thành Tây Bắc và Bắc, tần suất đạt 25- 40%. Mùa hè các tháng 5, 6, 7 hướng gió ổn định, thịnh hành là Đông và Đông Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 11 Cao học môi trường K18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga Nam, tần suất đạt 60-70%. Tháng 8 hướng gió phân tán, hướng thịnh hành nhất cũng chỉ đạt tần suất 20-25%.
Các tháng chuyển tiếp hướng gió không ổn định [12]. - Chế độ mưa ẩm: Do địa hình lưu vực sông Nhuệ đa dạng và phức tạp nên lượng mưa cũng biến đổi không đều theo không gian. Phần hữu ngạn của lưu vực có mưa khá lớn (X>1800 mm), nhất là vùng đồi núi phía Tây (X>2000 mm). Trung tâm mưa lớn nhất ở thượng nguồn sông Tích thuộc núi Ba Vì (X = 2200-2400mm).