Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về mô hình phát triển khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Bối cảnh và thực trạng phát triển khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. - Chương 4: Mô hình phát triển khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ QUA BIÊN GIỚI CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài 1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trongnước Ở trong nước, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về mô hình khu kinh tế qua biên giới, được thể hiện qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau đây: - Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng, quản lý và phát triển khu kinh tế xuyên biên giới. Kỷ yếu gồm 14 bài viết của nhiều tác giả đến từ các trường đại học, các Viện nghiên cứu khác nhau trên cả nước xung quanh các vấn đề về: Sự cần thiết và vai trò của hợp tác kinh tế biên giới và khu kinh tế qua biên giới; Các vấn đề lý luận, thực tiễn của các khu hợp tác qua biên giới của Việt Nam với các nước láng giềng; Kinh nghiệm quốc tế và các khu hợp tác kinh tế biên giới.
- Phạm Sỹ Thành, “Khu hợp tác kinh tế qua biên giới với Trung Quốc: Mô hình “hai nước một khu đang đi tới đâu?”, thesaigontimes. Trong công trình nghiên cứu này, tác đã trình bày tương đối đầy đủ các nội dung liên quan đến khu hợp tác kinh tế qua biên giới của Việt Nam với Trung Quốc, từ quá trình hình thành ý tưởng đến lộ trình thực hiện ý tưởng xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới của Việt Nam với Trung Quốc. - Doãn Công Khánh, “Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc: Thực trạng và triển vọng, Tạp chí cộng sản, 2017. Công trình 4 nghiên cứu đã nêu một số nét tổng quan về khu hợp tác kinh tế qua biên giới; Tiềm năng hợp tác kinh tế, thương mại qua biên giới Việt - Trung.
- Nguyễn Mạnh Hùng, “các mô hình phát triển khu kinh tế cửa khẩu”, Tạp chí công thương, 2009: Tác giả đã đưa ra một số mô hình tiêu biểu về các khu kinh tế cửa khẩu: Nguyên tắc chung và nội dung của các mô hình đưa ra. Ngoài ra, các nội dung liên quan đến đề tài cũng nằm trong hoặc xuất hiện nội dung liên quan tại các nghiên cứu về khu kinh tế cửa khẩu, về thương mại biên giới tiêu biểu là những công trình như: - Đặng Xuân Phong, “Phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, 2012”. Tác giả đã có những nghiên cứu thực tế, từ đó đưa ra các biện pháp để phát triển khu kinh tế cửa khẩu thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. - Một số chính sách và giải pháp chủ yếu cấp bách nhằm phát triển quan hệ thương mại khu vực biên giới Việt - Trung, đề tài nghiên cứu cấp bộ, của Bộ thương mại, năm 2000: Đề tài tập trung nghiên cứu các điều kiện khó khăn, thuận lợi trong quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thương mại biên mậu, từ đó đưa ra các giải pháp trọng yếu nhất để phát triển thương mại khu vực biên giới Việt – Trung.
- Phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, TS. Nguyễn Văn Lịch, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005. Công trình nghiên cứu đã đánh giá thực trạng phát triển thương mại dựa trên cơ sở hạ tầng giao thông, kỹ thuật khác của Việt Nam với Trung Quốc. - Các giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc), đề tài NCKH cấp Bộ, Bộ Công Thương, TS.
Công trình đã nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như thực tiễn phát triển quan hệ thương mại của Việt Nam, đặc 5 biệt là quan hệ thương mại của các tỉnh biên giới Việt Nam với 2 tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc). Trên cơ sở đó, công trình nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp để thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại với hai tỉnh của Trung Quốc nói chung và thúc đẩy phát triển thương mại biên mậu với hai tỉnh của Trung Quốc nói riêng. Tình hình nghiên cứu ngoàinước Ở ngoài nước, nghiên cứu về phát triển các khu kinh tế (KKT), KKT nói chung, KKT qua biên giới được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm, được thể hiện qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau đây: - LORD, M. Scoping Study for the Special Border Economic Zone (SBEZ) in the Indonesia-Malaysia-Thailand Growth Triangle (IMT-GT): Các tác giả đã nghiên cứu những nội dung cơ bản của CBEZ cũng như đã đề cập đến lộ trình thành lập CBEZ, bắt đầu từ mô hình tương đối đơn giản có khu vực địa lý nhỏ dần dần sẽ phát triển thành một mô hình linh hoạt, quy mô hơn.
Scoping for the Special Border Economic Zone (SBEZ) in the Indonesia – Malaysia – Thailand Growth Triangle (IMT – GT). Dự án hỗ trợ kỹ thuật TA-6462 REG: Institutional Development for Enhanced Subregional Cooperation in the aSEA Region – Regional Development Economist-Lead (Special Border Economic Zones): Nghiên cứu khu kinh tế đặc biệt dành cho khu vực biên mậu của 3 nước: Indonesia – Malaysia – Thailand. Những tồn tại và các vấn đề mang tính mới mà luận văn cần giải quyết Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề lý thuyết về phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, chỉ ra vị trí, tầm quan trọng của khu kinh tế cửa khẩu. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã được công bố chưa đề cập hoặc đề cập chưa đầy đủ về mô hình phát triển khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như một số vấn đề nghiên cứu trong luận văn này: - Các điều kiện để phát triển khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đưa ra một số gợi ý về các bước phát triển khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ sở lý luận của mô hình phát triển khu kinh tế qua biên giới 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khu kinh tế, Khu kinh tế qua biên giới a.
Khu kinh tế Đặc khu kinh tế (SEZ)1 là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính/vùng lãnh thổ được lập ra vì mục đích phát triển kinh tế rõ rệt hơn những vùng còn lại của quốc gia. Các ngành nghề và doanh nghiệp hoạt động trong đó được hưởng chính sách pháp luật và các ưu đãi đặc biệt hơn những khu vực khác. Như vậy, các SEZ là một khu vực nằm trong lãnh thổ một quốc gia, mục đích của SEZ bao gồm: Gia tăng thương mại, tăng cường đầu tư, tạo việc làm và quản lý hiệu quả. Khi gia nhập hoạt động trong đặc khu kinh tế, các doanh nghiệp có thể miễn nhiễm với pháp luật quốc gia liên quan đến thuế, hạn ngạch, lao động và những nội dung pháp luật khác nhằm tạo ra các hàng hóa có mức giá cạnh tranh trên qui mô toàn cầu.2 Theo Nghị định Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 1 http://translate.vn/translate?hl=vi&sl=en&u=http://en.org/wiki/Special_econo mic_zone&prev=search 2 http://tcdcpl.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=92 7 2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế thì khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định.
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinhtế. Như vậy, hiểu một cách chung nhất, khu kinh tế là một khu vực có ranh giới, diện tích, địa lý xác định được các quốc gia lập với nhiều chính sách đặc biệt, đặc quyền để tạo ra giá trị lợi ích tối đa trong việc tăng trưởng nền kinh tế khu vực. Với những đặc điểm như trên, mô hình khu kinh tế đã được các nước áp dụng một cách linh hoạt, xây dựng các mô hình khu kinh tế khác nhau phù hợp với các điều kiện của mình. Khu kinh tế qua biên giới Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về thuật ngữ khu kinh tế qua biên giới.
Thuật ngữ khu kinh tế qua biên giới hay Khu hợp tác kinh tế biên giới được dùng ở Việt Nam trong một số năm gần đây khi mà quan kệ kinh tế - thương mại của Việt Nam với các nước có chung đường biên giới phát triển, đặc biệt là Trung Quốc, đòi hỏi phải có mô hình kinh tế phù hợp, nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh kinh tế của hai nước thông qua các cửa khẩu biên giới. Theo Lord và Tangtrongjita (2014), đặc khu kinh tế biên giới là “một mạng lưới các hoạt động nhằm mục tiêu thúc đẩy thương mại và đầu tư xuyên biên giới, đồng thời khuyến khích sự phát triển về mặt kinh tế và xã hội của các vùng dọc biên giới hai quốc gia”. SBEZ có nguyên tắc hoạt động tương tự như SEZ nhưng mở rộng hơn ở các yếu tố hỗ trợ kết nối như giao thông vận tải, liên kết năng lượng và cơ sở hạ tầng mềm [2]. Như vậy khu kinh tế qua biên giới được hiểu theo khái niệm kể trên có nhiều điểm khác nhau so với khu kinh tế thông thường.
Sự khác biệt giữa đặc khu kinh tế và đặc khu kinh tế biên giới Đặc khu kinh tế (SEZ) Đặc khu kinh tế biên giới (SBEZ) Một SEZ thường được Một SBEZ là một khu vực địa lý định nghĩa là một khu vực nằm dọc biên giới của hai quốc gia.