phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong dạy học sinh học 8 để phát triển năng lực tự học cho học sinh Trung học cơ sở Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cở sở lí luận 1. Lịch sử nghiên cứu 1.
Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Năng lực tự học Hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI trong báo cáo “Học tập, một kho báu tiềm ẩn”(1996) gửi UNESCO, khẳng định xu thế lớn toàn cầu hóa, kéo theo hàng loạt căng thẳng cần phải khắc phục. Báo cáo này đã nêu: Học suốt đời là một trong những chìa khoá nhằm vƣợt qua những thách thức của thế kỷ XXI, với đề nghị gắn nó với 4 trụ cột giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm ngƣời, hƣớng về xây dựng một xã hội học tập. Quan niệm mới “học tập suốt đời: một động lực xã hội” sẽ giúp con ngƣời đáp ứng những yêu cầu thế giới thay đổi nhanh chóng. Điều này thể hiện những đòi hỏi chẳng những có thật mà còn đang ngày càng mãnh liệt hơn.
Không thể thỏa mãn những đòi hỏi đó đƣợc, nếu mỗi con ngƣời không học cách học. Học cách học chính là học cách tự học. Trong cuốn “Tự học – Lí luận và thực tiễn” của tác giả Sandra Kerka (1999), cho rằng quan niệm sai lầm lớn nhất là cố gắng để nắm bắt đƣợc bản chất của TH trong một định nghĩa duy nhất. Tác giả cho rằng cho dù nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay học nhóm, mỗi một cá nhân ngƣời học có phƣơng pháp, có năng lực riêng biệt – chính sự riêng biệt ấy cho thấy năng lực tự học và việc tự học của mỗi cá nhân là khác nhau.
Công trình “Học tập một cách thông minh” của Michael Shayer và Philip Adey, NXB viện Đại học mở Buckingham, 2002 (Bản tiếng Anh: Learning Intelligence) đã đƣa ra nhiều biện pháp giúp HS học tập một cách thông minh. Các tác giả chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS từ đó đƣa ra những gì cần giúp đỡ các em trong quá trình tự học. Bên cạnh đó Michael và Phillip còn quan tâm đến những giao tiếp của HS khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các em có thể kết luận mức hiểu bài cũng nhƣ mức độ tích cực của HS khi tự học. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Richard Smith, giáo sƣ tại Đại học Warwick, trong cuốn sách “Tự học”, của nhà xuất bản Đại học Oxford (2008), ông lại cho rằng tự học có nghĩa là ngƣời học tự chủ.
Theo ông đây không hẳn là một phƣơng pháp trong dạy học mà là một mục tiêu quan trọng của giáo dục. Ý tƣởng về tự chủ của ngƣời học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác nhƣ: Cá nhân hóa, ngƣời học độc lập. Điều này có ý nghĩa là ngƣời học phải có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình.Tronge với công trình “Những phẩm chất của ngƣời GV hiệu quả”, NXB Giáo dục 2011, ngƣời dịch Lê Văn Canh đã nhấn mạnh đến việc GV tạo lập một môi trƣờng học tập hiệu quả cho HS, trong đó có việc khuyến khích và phát triển năng lực tự học đáp ứng những nhu cầu cá nhân của các nhóm HS chuyên biệt trong lớp học. Ông chú trọng việc hỗ trợ các hoạt động tích cực của HS thông qua thủ thuật đặt câu hỏi và thảo luận.
Công trình “Nghệ thuật và khoa học dạy học”, NXB Giáo dục năm 2011, của nhà giáo dục học nổi tiếng ngƣời Mĩ Robert J. Nguyễn Hữu Châu dịch lại đề cập đến việc hình thành năng lực tự học cho HS thông qua việc trả lời các câu hỏi lớn trong mỗi chƣơng. Những câu hỏi này tập trung vào việc hình thành thái độ học tập tích cực cho HS, năng lực vận dung kiến thức và kiểm nghiệm các giả thuyết về kiến thức mới và làm thế nào để xây dựng bài học một cách hiệu quả. Nhƣ vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục học và tâm lý học thế giới về tự học và năng lực tự học chúng tôi nhận tự học ấy: tự học là yếu tố quyết định cho xu hƣớng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại.
Việc phát triển năng lực tự học là vô cùng cần tự học iết, ảnh hƣởng to lớn và trực tiếp tới việc học của ngƣời học. Mô hình lớp học đảo ngược Eric MaZur ở đại học Harvad đã phát triển phƣơng pháp “hƣớng dẫn theo cặp” vào những năm 20 của thế kỉ XX. Ông nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong việc giảng dạy giúp ông hƣớng dẫn học viên chứ không phải diễn thuyết. Mazur đã xuất bản một cuốn sách vào năm 1997 “Peer Instruction: A User's Manual Series in Educational Innovation”.
Cách tiếp cận của ông là chuyển thông tin chuyển ra khỏi lớp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học và đồng hóa thông tin vào lớp học, cho phép ông huấn luyện các sinh viên trong việc học của họ thay vì các bài giảng [19]. Tại hội thảo quốc tế lần thứ 11 về dạy và học đại học, Baker trình bày “Lớp học đảo ngược: sử dụng công cụ quản lí khóa học trực tuyến để GV trở thành người hướng dẫn”. Bài báo của Baker đƣa ra một mô hình mẫu của một lớp học đảo ngƣợc [13]. Năm 1993, Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide on the side” (Từ nhà thông thái trên các tƣợng đài thành ngƣời đồng hành bên cạnh bạn).
Trong đó, King đặc biệt chú trọng vào việc GV cần sử dụng thời gian ở lớp để tổ chức cho HS tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin. Mặc dù chƣa đƣa ra khái niệm Flipped Classroom nhƣng công trình của King thƣờng đƣợc các nhà giáo dục trích dẫn nhƣ là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành không gian lớp học vào các hoạt động học tập tích cực [22]. Đến năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Inverting the Classroom: A gateway to Creating an Inclusive Learning Environmen” (Đảo ngƣợc lớp học - cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trƣờng học tập trọn vẹn), trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngƣợc tại các trƣờng cao đẳng. Nghiên cứu của họ tập trung vào khoa kinh tế của 2 trƣờng cao đẳng.
Lage, Platt, và Treglia khẳng định rằng ngƣời ta có thể tận dụng thời gian học (di chuyển trình bày thông tin qua bài giảng ra khỏi lớp học truyền thông nhƣ máy tính hoặc VCR) để đáp ứng nhu cầu của sinh viên với một loạt các phong cách học tập [24]. Trong bài thuyết trình lớp học đảo ngược (2006), Tenneson và McGlasson trình bày một phƣơng cách cho GV cân nhắc xem họ có nên đảo ngƣợc lớp học của mình hay không và đƣa ra các cách để cải tiến quá trình dạy. Đồng thời, bài thuyết trình này cũng đi sâu vào hệ thống quản lí việc học trên máy tính [15]. Năm 2007, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, hai GV hóa học trƣờng THPT Woodland Park (Mỹ), ghi lại những bài giảng của mình và cung cấp cho HS vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lớp một cách đầy đủ để theo kịp chƣơng trình, qua đó họ đã xây dựng mô hình Flipped Classroom, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS.
Họ là đồng tác giả của mô hình “Flip Your 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Classroom: Reach Every Student in Every Class Every Day” (Đảo chiều lớp học: tiếp cận từng HS trong từng lớp theo từng ngày), có ý tƣởng đơn giản: “Điều gì sẽ xảy ra nếu chuyển bài tập ở lớp thành bài tập ở nhà và bài tập ở nhà thành bài tập ở lớp?”. Sau đó, cả hai tác giả đã tiếp tục đặt ra giả thiết: “Điều gì sẽ xảy ra nếu thôi hƣớng dẫn trực tiếp và ghi hình sẵn những bài giảng để các em có thể truy cập ở nhà?”. Hai ông đã nghiên cứu và đƣa ra quan điểm của mình: “Để lấy ấy lại đƣợc thời gian quý báu từ bài tập ở lớp, GV có thể tiến hành cách học theo dự án, tƣơng tác trong cách thức giả lập hoặc vấn đề cần giải quyết, khuyến khích đặt câu hỏi và phát triển khả năng làm chủ vấn đề của HS. Mô hình học đảo chiều này thậm chí mang lại nhiều cơ hội hơn nữa cho những ngƣời tán thƣởng phong trào dạy theo mô hình một - một.
Điểm mấu chốt ở đây là khi phải vật lộn với vấn đề của mình, thì trong phòng học đã có sẵn ngƣời thầy ở đó để giúp các em vƣợt qua”. Jonathan và Aaron đã nhận đƣợc phần thƣởng của tổng thống vì những thành công trong mô hình Flipped Classroom [18]. Giáo sƣ Bill Brantley trình bày một mô hình lớp học đảo ngƣợc ở Hội thảo dạy và học của Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ tháng 2/2007. Ông miêu tả cách sử dụng hai phiên bản cho lớp học trong khi gửi tài liệu qua phần mềm Learning Management System (LMS) [22].
Cũng vào năm 2007, Jeremy Strayer công bố một nghiên cứu thực hiện tại Đại học bang Ohio với nhan đề “Những ảnh hưởng của lớp học đảo ngược đối với môi trường học: so sánh hoạt động giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược có sử dụng một hệ thông minh”. Nghiên cứu nêu bật tầm quan trọng của việc chú trọng tới sự liên kết của hoạt động trên lớp và ngoài lớp học có thể tiêu cực hoặc tích cực ảnh hƣởng tới việc tham gia học của HS [22]. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam Năng lực tự học Nguyễn Cảnh Toàn, một trong những tác giả có công nghiên cứu rất nhiều về tự học và làm thế nào để tự học có hiệu quả, ông cùng một số tác giả xuất bản khá nhiều đầu sách viết về vấn đề này tiêu biểu nhƣ: “Quá trình dạy tự học”, NXB Giáo dục 1996; “Học và dạy cách học”, NXB Đại học Sƣ phạm 2002; “Tự học nhƣ thế 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nào cho tốt”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009; “Học để đuổi kịp và vƣợt”, NXB Lao động năm 2010.