Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đào tạo, liên kết và liên kết đào tạo a) Đào tạo Khái niệm đào tạo, được định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, năm 2011 như sau: “Đào tạo làm cho con người trở thành có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định”.
Còn theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa đào tạo: “là quá trình tác động đến một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách”. Trên thực tế, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, quan niệm khác nhau về “đào tạo”, song nhìn một cách tổng thể, “đào tạo” được xem xét trên những dấu hiệu cơ bản: Thứ nhất, đào tạo là hoạt động có mục đích, có tổ chức. Nói đến đào tạo là nói đến hoạt động dạy học và giáo dục diễn ra trong nhà trường.
Trong quá trình đào tạo phải có sự phân công chức năng, nhiệm vụ của các lực lượng sư phạm, xác định rõ kế hoạch thời gian, cơ sở vật chất bảo đảm… Thứ hai, trong đào tạo luôn diễn ra mối quan hệ tác động qua lại giữa nhà giáo và đối tượng giáo dục. Thứ ba, đào tạo nhằm hướng đến sự phát triển con người toàn diện, cả về phẩm chất, năng lực theo yêu cầu của xã hội, yêu cầu nghề nghiệp tương lai của mỗi người. Với cách tiếp cận trên, chúng ta có thể đưa ra quan niệm như sau: Đào tạo là hoạt động có mục đích, có tổ chức với sự tương tác giữa nhà giáo dục đối với đối tượng giáo dục nhằm giúp cho đối tượng giáo dục hoàn thiện cơ bản về phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu nhất định của xã hội và nghề nghiệp. Quá trình đào tạo, hiểu theo nghĩa hẹp là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động giáo dục - đào tạo của nhà trường.
Quá trình đào tạo do mỗi nhà trường quản lý, nhưng nó có quan hệ tương tác, liên kết với các tổ chức đào tạo khác, hoặc các tổ chức, cơ quan khác mà người học có điều kiện tham gia hoạt động. Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ban hành ngày 27 tháng 11 năm 5 2014 có quy định: Nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ của giáo dục nghề nghiệp được quy định như sau: - Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề; - Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm; - Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc.
b) Liên kết Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng do Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, năm 2011, thuật ngữ “liên kết” được hiểu là: “Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ”. Như vậy, khái niệm “liên kết” phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau giữa các thành phần trong một tổ chức hoặc giữa các tổ chức với nhau nhằm hướng đến một mục đích chung nào đó. Tính hướng đích là tiêu điểm, là cơ sở và động lực của các mối liên kết giữa chúng. Sự liên kết giữa các tổ chức theo một mục đích nào đó tạo nên một sức mạnh mới, khả năng mới mà từ thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ không thể có được.
c) Liên kết đào tạo Khái niệm liên kết đào tạo được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 29/2017/TT-BLĐTBXH Quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo do Bộ trưởng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, theo đó: “Liên kết đào tạo 6 là sự hợp tác giữa đơn vị chủ trì liên kết đào tạo với đơn vị phối hợp liên kết đào tạo để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, chứng chỉ sơ cấp nhưng không hình thành pháp nhân mới”. Hợp đồng liên kết đào tạo là văn bản được ký kết giữa các bên liên quan nhằm xác định quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm mà các bên thoả thuận trong quá trình liên kết đào tạo. Từ sự phân tích các khái niệm “đào tạo”, “quá trình đào tạo” và những vấn đề về hoạt động liên kết đào tạo. Mục đích của hoạt động liên kết đào tạo là thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội; huy động tiềm năng của các CSGDNN, nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho địa phương; tạo cơ hội học tập cho nhiều người trên cơ sở bảo đảm chất lượng, hiệu quả giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và xã hội hoá giáo dục.
Sự kết hợp giữa các CSGDNN cơ sở giáo dục thông qua hình thức liên kết được thực hiện trên những nội dung cơ bản như: Khảo sát nhu cầu học tập của người học; xây dựng kế hoạch mở lớp; tuyển sinh; thực hiện kế hoạch và chương trình đào tạo; hoạt động giảng dạy của giảng viên; hoạt động học tập của người học; công tác kiểm tra, đánh giá; giáo trình, tài liệu; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Mô hình liên kết Trên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về mô hình liên kết, tuy nhiên, theo nhóm tác giả thì: Mô hình liên kết là những thỏa thuận, nguyên tắc làm việc, qua đó, các bên sẽ có trách nhiệm xây dựng và triển khai các hoạt động cụ thể; tổ chức kiểm tra, đánh giá và đổi mới các hoạt động. Chất lượng và chất lượng giáo dục nghề nghiệp a) Chất lượng Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Vietlex, do GS. Hoàng Phê chủ biên thì: "Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một sự vật, sự việc" [17, 197].
Theo quan điểm triết học: "Chất lượng là sự biến đổi về chất và kết quả của quá trình tích lũy về lượng (quá trình tích lũy, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật và hiện tượng. Trong đó chất lượng được hiểu là thuộc tính, tính chất của sự vật, hiện tượng làm cho sự vật, hiện tượng đó khác với các sự vật, hiện tượng khác". Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh: "Chất lượng sản phẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về nguyên vật liệu chế tạo, quy trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính về sử dụng, kể cả mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng". 7 Theo định nghĩa của ISO 9000-2000: "Chất lượng là mức độ đáp ứng yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có", trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc.
Theo bài giảng môn Quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp của PGS.TS Nguyễn Khang - Bộ GD&ĐT thì khái niệm hiện nay: - Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn; - Chất lượng là sự phù hợp với mục đích; - Chất lượng là hiệu quả của việc đạt được mục đích; - Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng; - Theo tiêu chuẩn ISO: Chất lượng là khái niệm của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, một hệ thống hay một quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan; Như vậy, chất lượng là khái niệm được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều mang hàm ý chung là tổng thể các đặc điểm và các đặc tính của một sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu của người sử dụng. Theo tác giả: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một sản phẩm làm cho sản phẩm đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. b) Chất lượng đào tạo Một số quan niệm chất lượng đào tạo: "Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể" [8, 31]. "Chất lượng đào tạo thể hiện chủ yếu và tập trung nhất ở chất lượng sản phẩm đào tạo.
Chất lượng đó là trình độ hiện thực hóa hay trình độ đạt được của mục tiêu đào tạo, thể hiện ở trình độ phát triển nhân cách của HS, SV sau khi kết thúc quá trình đào tạo" [25, 36]. "Chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động” có thể hiểu là đầu ra của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành trong hệ thống đào tạo.