CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ KHIẾM THÍNH 1. Các khái niệm công cụ 1. Khuyết tật Khái niệm khuyết tật Theo Công ước về Quyền của người KT năm 2006: “Người KT bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”. [10] Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành ngày 17/06/2010: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng làm suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ, giác quan trong một thời gian dài được biểu hiện dưới các dạng khuyết tật và do các rào cản xã hội, thiếu các điều kiện hỗ trợ phù hợp dẫn tới bị cản trở sự tham gia bình đẳng vào hoạt động xã hội”.
[23] Phân loại khuyết tật Dựa vào những tiêu chí khác nhau các nhà khoa học đã đưa ra nhiều cách phân loại khuyết tật khác nhau. Theo tài liệu của UNICEF – 2004 [36], khuyết tật được phân chia thành các dạng sau: + KT vận động + KT thị giác - khiếm thị + KT thính giác – người khiếm thính + KT ngôn ngữ + KT về trí tuệ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Hội chứng tự kỷ + Rối loạn thần kinh + Chứng động kinh + Mất cảm giác (bệnh hủi, bệnh phong) Hiện nay, ở Việt Nam thường chia thành các dạng khuyết tật như sau: + Khiếm thính + Khiếm thị + Khuyết tật trí tuệ + Khuyết tật ngôn ngữ + Khuyết tật vận động + Rối loạn hành vi và cảm xúc + Đa tật Khái niệm trẻ khiếm thính Trong Bách khoa toàn thư hay từ điển Y học: “Những trẻ bị phá hủy cơ quan phân tích thính giác ở mức độ này hay mức độ khác được gọi là TKT”. [9] Theo từ điển Tiếng Việt, điếc thường được hiểu là mất khả năng nghe. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) sử dụng thuật ngữ khiếm thính đối với trẻ mất thính lực từ 50 dB trở lên (không có khả năng nghe được trọn vẹn một câu nói chuyện bình thường ở khoảng cách 1 mét), sử dụng thuật ngữ điếc đối với trẻ mất thính lực từ 80 dB trở lên (chỉ có khả năng nghe được tiếng động mạnh sát tai và thường bị mất ngôn ngữ - câm).23] Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến cho rằng: “TKT nhằm chỉ những trẻ em dưới 16 tuổi bị mất hoặc giảm sút sức nghe ở những mức độ khác nhau.
Khái niệm này được sử dụng tương đương với trẻ khuyết tật thính giác hay trẻ điếc”. [42] Hiện nay, các thuật ngữ thường dùng để chỉ trẻ điếc là TKT hay trẻ khuyết tật thính giác và độ điếc là độ giảm sút thính lực. Trong Luật người khuyết tật Việt Nam ban hành ngày 29/06/2010 đã quy định dùng thuật ngữ khuyết tật nghe, nói để chỉ người khiếm thính. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm về TKT phụ thuộc vào quan điểm nhìn nhận về khiếm thính.
Có hai quan điểm nhìn nhận về khiếm thính là: quan điểm lâm sàng và quan điểm tôn trọng văn hóa. Quan điểm lâm sàng, hay còn được gọi là quan điểm y tế hoặc bệnh học, nhìn nhận khiếm thính trong việc so sánh với khả năng nghe bình thường và ảnh hưởng khả năng nghe đến khả năng sử dụng ngôn ngữ nói và khả năng giao tiếp. Quan điểm này cho rằng: “TKT là những trẻ bị mất hoặc suy giảm về sức nghe kéo theo những hạn chế về phát triển ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp”.35] Quan điểm tôn trọng văn hóa đặc thù coi khiếm thính là hiện tượng bình thường, không phải là bệnh hay khuyết tật cần phòng ngừa hay chữa trị. Theo quan điểm này có 3 ý kiến cho rằng: cá nhân khiếm thính không muốn trở thành “người nghe bình thường”.
Khả năng nói và nghe không phải là mục tiêu thực tế của người khiếm thính, vì họ đã sử dụng ngôn ngữ ký hiệu. Người khiếm thính tự hào là nhóm thiểu số trong xã hội. “Thời gian gần đây, một số người đã đề xuất thành lập Trung tâm nghiên cứu khiếm thính nhằm phát hiện sớm, chữa trị và phòng ngừa tật này. Nhiều người điếc đã phản đối điều này vì họ là nhóm thiểu số, và yêu cầu chính phủ không được miệt thị người thiểu số”.36] Như vậy, có rất cách định nghĩa về TKT.
Tuy nhiên, trong đề tài của mình, tôi sử dụng khái niệm TKT theo quan điểm lâm sàng hay còn gọi là quan điểm y tế. Các mức độ khiếm thính Thính lực đồ Để xác định mức độ khiếm thính, người ta dùng thính lực đồ 9 (Hình 1. Thính lực đồ là biểu đồ ghi lại kết quả kiểm tra sức nghe. Nhà thính học 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ghi lại độ lớn (cường độ) mà người ta bắt đầu nghe được ở mỗi cao độ (tần số) được đo.
Nói cách khác, thính lực đồ cho biết cường độ âm thanh nhỏ nhất mà một người có thể nghe được (ngưỡng nghe).2: Thính lực đồ Thính lực đồ được tạo thành bởi tần số đơn vị đo là Hz biểu diễn trên trục hoành và cường độ đơn vị đo là dBHL biểu diễn trên trục tung. Khoảng cách giữa các cường độ là 10dB và mốc đầu tiên trên trục hoành là 125Hz. Phần lớn các thính lực đồ có giải tần từ 100Hz đến 8000Hz, đây là những tần số quan trọng giúp hiểu âm thanh lời nói. Độ khiếm thính trung bình và các mức độ khiếm thính Độ khiếm thính trung bình: tính bằng trung bình cộng của ngưỡng nghe đường khí ở 3 tần số 500Hz, 1000Hz và 2000Hz.
Các mức độ khiếm thính: (1) Khiếm thính mức I (nhẹ): ngưỡng nghe từ 21dB đến 40dB (2) Khiếm thính mức II (vừa): ngưỡng nghe từ 41dB đến 70dB 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (3) Khiếm thính mức III (nặng): ngưỡng nghe từ 71dB đến 90dB (4) Khiếm thính mức IV (sâu): ngưỡng nghe trên 90dB Khiếm thính mức độ nhẹ: Giảm thính lực ở mức độ nhẹ nếu độ giảm thính lực trung bình từ 20dB đến 40dB. Người bị khiếm thính nhẹ nghe mọi âm thanh đều bị nhỏ đi và không được rõ ràng như người có sức nghe bình thường. Về phương diện giáo dục, trẻ bị khiếm thính ở mức độ nhẹ có khó khăn về nghe trong môi trường nhiều tiếng ồn. Các kỹ năng đọc và hình thành ngôn ngữ bị ảnh hưởng.
Có thể trẻ phải đề nghị người nói nhắc lại ngay cả khi môi trường yên tĩnh. Nếu độ điếc trung bình khoảng 40dB thì việc đeo máy trợ thính sẽ có tác dụng tốt. Khiếm thính mức độ vừa: độ điếc trung bình từ 41dB đến 70dB. Nếu điếc trên khoảng 50 đến 60dB có nghĩa là điếc tiếp nhận đơn thuần hay điếc hỗn hợp vì điếc dẫn truyền đơn thuần tối đa chỉ tới 60dB.
Một người bị khiếm thính ở mức độ vừa cần được đeo máy trợ thính, nếu không được đeo máy trợ thính thì ngay cả khi môi trường yên tĩnh, tiếng nói bình thường sẽ chỉ nghe được ở mức độ rất nhỏ, như tiếng thì thầm mà thôi. Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ và hiểu lời nói của trẻ bị khiếm thính mức độ vừa cũng bị ảnh hưởng Khiếm thính mức độ nặng: độ điếc trung bình từ 71dB đến 90dB. Trong trường hợp này chắc chắn là điếc tiếp nhận, có khi kèm thêm điếc dẫn truyền. Không bao giờ có điếc dẫn truyền ở mức độ nặng.
Nếu không có máy trợ thính, người bị khiếm thính ở mức độ nặng không thể nghe được tiếng nói bình thường ngay cả khi đeo máy trợ thính âm thanh nghe được cũng không hoàn chỉnh, âm thanh bị méo. Nếu một trẻ bị khiếm thính mức độ nặng bẩm sinh thì điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp nhận và hiểu ngôn ngữ nói. Khiếm thính mức độ sâu: độ điếc trung bình trên 90dB. Nếu không đeo máy trợ thính, người khiếm thính ở mức độ sâu không nghe được cả những âm thanh lớn ở rất gần.
Với một máy trợ thính công suất lớn, âm thanh nghe được không hoàn chỉnh và bị méo mó rất nhiều. Tuy nhiên, một TKT ở mức độ này 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nếu được chẩn đoán sớm, đeo máy trợ thính thích hợp cùng với việc quản lý giáo dục thích hợp sẽ được hội nhập tốt với trẻ bình thường.56] Nguyên nhân gây khiếm thính Những nguyên nhân trước khi sinh: (1) Di truyền, nhiễu loạn về gen. Điếc di truyền là nguyên nhân tương đối phổ biến. Điếc di truyền có khi chỉ biểu hiện một tật điếc, có khi tật điếc chỉ là một phần của hội chứng.
Ngày nay người ta tìm được khoảng 130 hội chứng trong đó có tật điếc. Ví dụ: Hội chứng Usher (điếc và viêm võng mạc sắc tố); Hội chứng Bardet – Biedle (trí tuệ đần độn, viêm võng mạc sắc tố, nhiều ngón tay, điếc); Hội chứng Waardenburg (chỏm tóc bạc, tóc bạc sớm, mắt xanh,…) (2) Mắc bệnh trong thời kì thai nghén: cúm, sởi, giang mai,… (3) Nhiễm độc trong thời kì thai nghén do thuốc, hóa chất (streptomycin…) (4) Đối kháng nhóm máu Rh giữa mẹ - con Những nguyên nhân trong khi sinh (1) Đẻ non, đẻ khó, đẻ ngạt (2) Sang chấn khi đẻ, làm forceps lấy thai Những nguyên nhân sau khi sinh (1)Các nhiễm khuẩn, nhiễm virus như viêm màng não, viêm não, quai bị, sởi,. (2) Các viêm tai - xương chũm (3) Nhiễm độc do sử dụng thuốc, đặc biệt lưu ý tới streptomycin (4) Các nguyên nhân khác như: tai nạn, ô nhiễm tiếng ồn,… Đặc điểm tâm lý của TKT Theo các khái niệm về tâm lý, chúng ta có thể thấy nhân tố chủ yếu quyết định các đặc điểm và đặc thù của TKT là sự mất thính giác. Vì vậy, chúng ta cần xem xét thính giác, cảm giác nghe có ý nghĩa như thế nào đối 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với cuộc sống của con người cũng như sự mất sức nghe có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển tâm lý.
Những đặc điểm về cảm giác, tri giác: Như chúng ta đã biết, cảm giác, tri giác là nền tảng của quá trình nhận thức. Chúng là những nguồn gốc cơ bản của những kiến thức mà chúng ta nhận thức được ở thế giới xung quanh. Trong những dạng cảm giác khác nhau thì cảm giác nghe và cảm giác nhìn có ý nghĩa chủ yếu. Chúng ta sống trong thế giới của âm thanh, của hình dạng và của màu sắc.
Những nguồn thông tin như phát thanh, truyền hình, phim ảnh, sân khấu, âm nhạc, về nhiều mặt dựa trên cảm giác nghe.