CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN 1. KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CHỌN 1.1 Định nghĩa Quyền chọn là hợp đồng giữa hai bên – bên mua và bên bán – trong đó bên mua có quyền (không phải là nghĩa vụ) để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá cả được thỏa thuận vào ngày hôm nay. Tài sản được đề cập thường là cổ phiếu, trái phiếu, tiền, vàng hoặc hàng hóa.và các loại tài sản trừu tượng khác như chỉ số chứng khoán chẳng hạn. Trong một hợp đồng quyền chọn có hai bên: bên mua quyền chọn và bên bán quyền chọn.
Bên mua quyền chọn trả cho bên bán quyền chọn một số tiền gọi là phí quyền chọn. Ngược lại, bên bán quyền này phải sẵn sàng bán tài sản nếu bên mua quyền chọn yêu cầu. Bên mua quyền chọn: là bên nắm giữ quyền chọn và phải trả phí quyền chọn cho bên bán để được “quyền” mua hoặc bán một loại tài sản cơ sở nào đó. Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, bên mua có ba sự lựa chọn: (i) thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu giá trên thị trường biến động theo hướng có lợi cho họ; (ii) bán hợp đồng quyền chọn cho bên thứ ba trên thị trường để hưởng chênh lệch giá; (iii) để quyền chọn tự động hết hiệu lực mà không tiến hành bất cứ một giao dịch mua bán nào nếu giá trên hợp đồng quyền chọn bất lợi hơn so với giá trên thị trường.
Trường hợp không thực hiện hợp đồng quyền chọn, họ vẫn bị mất phí mua quyền. Do vậy, bên mua bị lỗ chỉ giới hạn bằng phí quyền chọn nhưng có lời thì không giới hạn. Có hai loại người mua quyền: người mua quyền chọn mua (Buyer Call Option) và người mua quyền chọn bán (Buyer Put Option). Bên bán quyền chọn: là bên phát hành quyền chọn.
Sau khi thu phí quyền chọn, bên bán quyền chọn phải có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch (mua hoặc bán) tài sản cơ sở đã thỏa thuận trong hợp đồng với bên mua – khi bên mua thực hiện quyền 123doc 2 trong thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán quyền chọn có lợi nhuận giới hạn (tối đa là phí quyền chọn), còn lỗ thì không giới hạn. Trên thị trường, có hai loại người bán quyền: người bán quyền chọn mua (Seller Call Option) và người bán quyền chọn bán (Seller Put Option). Đối tượng tham gia mua bán quyền chọn rất đa dạng, bao gồm: những người đang sở hữu tài sản tham gia giao dịch nhằm phòng ngừa rủi ro và những người không sở hữu tài sản nào nhưng tham gia với mục đích đầu cơ kiếm lời.2 Các loại quyền chọn: có 2 loại cơ bản 1.
Quyền chọn mua: Hợp đồng quyền chọn mua (Call Option) là một loại hợp đồng tài chính diễn ra giữa hai bên, cho phép người mua hợp đồng có quyền mua một số lượng tài sản nhất định ở một mức giá ấn định trước, gọi là "strike price" hoặc "exercise price" - vào hoặc trước ngày đáo hạn của hợp đồng. Đổi lại, người mua hợp đồng (holder) phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn (writer) một khoản phí (call premium). Nếu giá tài sản cơ sở tăng như dự đoán thì người mua hợp đồng sẽ thu được lợi nhuận trong khi chỉ đầu tư một khoản nhỏ (phí hợp đồng) hơn là phải bỏ tiền ra mua toàn bộ số tài sản đó, trường hợp này người ta nói hợp đồng quyền chọn mua có lãi (in- the-money call option), ngược lại hợp đồng quyền chọn mua bị lỗ (out-of-the money call option). Về phía người bán, anh ta chỉ thu được một khoản lợi tức bằng với phí quyền chọn, nhưng khi người mua thực hiện hợp đồng thì người bán sẽ bị lỗ không giới hạn.
Trong hợp đồng quyền chọn mua, người mua bao giờ cũng kì vọng giá tài sản tăng trong khi người bán kì vọng giá tài sản đứng hoặc giảm. Do có nhiều nguồn thông tin khác nhau, cách phân tích và đánh giá khác nhau nên nảy sinh những kì vọng khác biệt giữa người mua và người bán, dẫn đến các hợp đồng mua bán quyền chọn mua như thế này được diễn ra.1 mô tả vị thế của người mua, người bán và phí quyền chọn mua: Lãi Điểm hòa vốn Vùng lời 0 Phí Giá tài sản tăng Lỗ Giá thực hiện (a) – Vị thế của người mua quyền chọn mua Lãi Giá thực hiện Phí Giá tài sản tăng 0 Vùng lỗ Lỗ Điểm hòa vốn (b) – Vị thế của người bán quyền chọn mua Hình 1.1 (a) mô tả vị thế của người mua quyền chọn mua với lợi nhuận tiềm năng là vô hạn khi giá tài sản tăng trong tương lai. Ngược lại, nếu giá tài sản giảm so với giá thực hiện, người mua quyền chỉ lỗ với mức lỗ tối đa bằng với phí mua quyền chọn.1 (b) mô tả vị thế của người bán quyền chọn mua tài sản, người bán quyền chọn mua chỉ kiếm lời bằng khoản phí nhận được từ người mua quyền chọn; và sẽ bị lỗ vô hạn khi giá tài sản tăng so với giá thực hiện. Quyền chọn bán: Nếu như Call option là hợp đồng quyền chọn mua thì ngược lại với nó có một loại hợp đồng quyền chọn khác là Put option, hợp đồng quyền chọn bán.
Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng (holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (writer) một số tài sản nhất định tại một mức giá 123doc 4 xác định (strike price, exercise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng (expiration date). Đổi lại, người mua phải trả cho người bán một khoản phí hợp đồng (option premium). Cần lưu ý rằng trong hợp đồng quyền chọn bán, người mua lại chính là người có quyền bán tài sản. Người mua hợp đồng sẽ có lợi nếu giá tài sản cơ sở sụt giảm, khi đó nếu người mua hợp đồng quyết định thực thi quyền bán (exercise the option), người bán hợp đồng buộc phải mua số tài sản đó.
Ngược lại, người bán hợp đồng (người có nghĩa vụ mua tài sản khi đến hạn nếu người mua hợp đồng yêu cầu) sẽ thu lợi khi giá tài sản tăng, đứng, hoặc giảm ít hơn khoản phí hợp đồng nhận được. Hợp đồng quyền chọn bán là một cách để nhà đầu tư bảo hiểm cho tài sản của mình khi anh ta dự đoán tài sản đó có khả năng sụt giảm trong tương lai, đồng thời không muốn bán hẳn số tài sản đó hoặc để đầu cơ thu lợi trước dự đoán đó.2 mô tả vị thế của người mua, người bán và phí quyền chọn bán: Lãi Điểm hòa vốn Vùng lời Giá tài sản tăng 0 Phí Lỗ Giá thực hiện (a) – Vị thế của người mua quyền chọn bán Lãi Giá thực hiện Phí 0 Vùng lỗ Giá tài sản tăng Lỗ Điểm hòa vốn (b) – Vị thế của người bán quyền chọn bán 123doc 5 Hình 1.2 (a) mô tả vị thế của người mua quyền chọn bán. Với một khoản phí để sở hữu quyền, người mua quyền chọn bán chỉ lỗ giới hạn bằng với khoản phí đã trả và có lời vô hạn khi giá của tài sản cơ sở giảm. Ngược lại, hình 1.2 (b) mô tả vị thế của người bán quyền chọn bán, người bán quyền chọn bán chỉ thu về giới hạn bằng phí bán quyền chọn nhưng nếu giá tài sản giảm thì họ sẽ gánh chịu một khoản lỗ là vô hạn.
Nhận xét: Như vậy, khi nhà đầu tư có dự định mua tài sản và kỳ vọng giá của tài sản đó sẽ tăng lên trong tương lai thì họ sẽ phòng ngừa rủi ro bằng cách mua một quyền chọn mua. Ngược lại, khi nhà đầu tư đang sở hữu tài sản và họ dự đoán trong tương lai giá tài sản sẽ giảm thì sự lựa chọn cho nỗi lo về giá của họ đối với tài sản đang sở hữu là mua một quyền chọn bán. Tuy nhiên, không có nghĩa là người bán quyền chọn mua và quyền chọn bán là những kẻ liều lĩnh hay thích đùa, đánh đổi một ít lợi nhuận bằng cả một rủi ro thua lỗ vô hạn. Trên thị trường, các nhà đầu tư khác nhau sẽ có nhận định và đánh giá khác nhau về xu hướng của thị trường.
Vì vậy, họ sẽ hành động theo nhận định, phân tích và dự báo của mình. Ngoại trừ họ vững tin xu thế giá cả tài sản sẽ biến động theo hướng kỳ vọng, bằng cách này hay cách khác họ sẽ tiến hành bù trừ vị thế rủi ro hay tự bảo vệ mình khỏi thua lỗ bằng cách kết hợp nhiều chiến lược một cách khôn khéo và độc đáo. Do có sự giới hạn trong khuôn khổ nghiên cứu, đề tài không đi sâu nghiên cứu định giá quyền chọn và các chiến lược kinh doanh liên quan đến quyền chọn.3 Phân loại quyền chọn theo thời gian thực hiện - Quyền chọn kiểu Mỹ (American style option): cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện hợp đồng quyền chọn vào bất kỳ ngày nào trong thời hạn hợp đồng và trước ngày đáo hạn. - Quyền chọn kiểu Châu Âu (European style option): chỉ cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện hợp đồng quyền chọn vào ngày đáo hạn.
Sự phân biệt giữa hai loại quyền chọn kiểu Châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹ không liên quan đến vị trí địa lý. Đa số hợp đồng quyền chọn được trao đổi chính yếu trên thị trường Mỹ. Tuy nhiên, quyền chọn kiểu Châu Âu có đặc điểm dễ phân tích hơn quyền chọn kiểu Mỹ.4 Ưu – nhược điểm của quyền chọn 1. Ưu điểm: - Ưu điểm nổi bật, khác hẳn và khắc phục nhược điểm của các loại hợp đồng khác là người nắm giữ quyền chọn có quyền (không phải nghĩa vụ) thực hiện mua hay bán hàng hóa hay không, tức là tài sản có chuyển giao hay không.
Điều này tạo thêm cơ hội kinh doanh và phù hợp với các biến động về giá hàng hóa. - Cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ phần trăm lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất: Do nhà đầu tư chỉ bỏ ra chi phí nhỏ là giá quyền chọn và một số phí liên quan trong quá trình giao dịch và thanh toán như phí môi giới, phí thanh toán …Đặc biệt, nếu giá tài sản cơ sở biến động đúng như kỳ vọng của nhà đầu tư, lúc này khoản lợi nhuận là rất lớn.