CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÂN BẰNG ĐỘNG TỔNG QUÁT Mô hình cân bằng động tổng quát (DSGE) đã ra đời từ lâu, tuy nhiên mô hình này không ngừng được phát triển để phù hợp với từng quốc gia, từng mục tiêu chính sách tiền tệ. Mô hình này được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết vững chắc bao gồm: (i) Lý thuyết chu kỳ kinh doanh/kinh tế thực; (ii) Lý thuyết Keynesian mới. Các phương pháp ước lượng mô hình DSGE cũng khá đa dạng bao gồm: (i) Phương pháp ước lượng GMM (Generalized method of moments estimation of equations); (ii) phương pháp ước lượng hàm hợp lý tối đa (Maximum likelihood estimation); (iii) phương pháp khớp hàm phản ứng (Impulse response matching); (iv) phương pháp ước lượng Bayes.1 Lịch sử phát triển và cơ sở lý thuyết mô hình DSGE Lý thuyết kinh tế theo trường phái Keynes ra đời năm 1936 đã trở thành nền tảng cho việc xây dựng hệ thống các mô hình kinh tế vĩ mô quy mô lớn để đánh giá các chính sách kinh tế cũng như dự báo kinh tế vĩ mô. Trong mô hình, các biến số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, M2, CPI, tiêu dùng, tỷ giá được đặt trong một hệ các phương trình với giả thuyết các hệ số ước lượng trong quá khứ sẽ ảnh hưởng đến dự báo trong tương lai.
Những mô hình này đạt được sự quan tâm và được ứng dụng rộng rãi trong giới nghiên cứu cũng như tại các NHTW vào những năm 1950 và 1960. Tuy nhiên, hạn chế của những mô hình quy mô lớn bắt đầu được chỉ rõ kể từ những năm 1970 khi chúng thất bại trong việc đưa ra những dự báo, đặc biệt liên quan tới cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Vốn dựa trên nền tảng lý thuyết của đường cong Phillips về sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp, các mô hình này không thể giải thích sự gia tăng đồng thời của lạm phát và thất nghiệp xảy ra trong những năm 1970. Năm 1976, nhà kinh tế học Robert E.
Lucas đã chỉ ra những hạn chế quan trọng trong các mô hình kinh tế lượng vĩ mô liên quan đến việc đánh giá tác động cũng như mức độ ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách đến nền kinh tế. Trong các mô hình này, các cá thể trong nền kinh tế như hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ… được giả định không thay đổi hành vi khi có sự thay đổi chính sách kinh 4 tế, và do đó, các hệ số ước lượng bất biến theo thời gian là không phù hợp trên thực tế. Để giải quyết vấn đề này, theo Lucas cần sử dụng các mô hình cấu trúc, có nghĩa là các cá thể trong nền kinh tế cần có sự thay đổi và điều chỉnh hành vi một cách hợp lí khi có sự thay đổi chính sách kinh tế. Các hệ số ước do đó sẽ phụ thuộc vào phản ứng của các chủ thể trong nền kinh tế.
Những mô hình này được gọi là cân bằng tổng quát. Bên cạnh đó, một trong những nhược điểm của các mô hình kinh tế lượng thời điểm này là việc chưa quan tâm tới việc đưa yếu tố kỳ vọng của mô hình. Để khắc phục những nhược điểm quan trọng này, mô hình lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực đã ra đời, đánh dấu nền tảng đầu tiên cho việc phát triển và ứng dụng mô hình DSGE.1 Lý thuyết chu kỳ kinh doanh/kinh tế thực Có thể coi mô hình chu kỳ kinh doanh thực (Real Business Cycle – RBC) do Kydland & Prescott (1982) là đặt nền tảng cho mô hình DSGE khắc phục được các hạn chế của các mô hình kinh tế lượng vĩ mô quy mô lớn như các tham số không mang tính cấu trúc và sự vắng mặt của yếu tố kỳ vọng được phê phán bởi Lucas vào những năm 1980. Lý thuyết này tiếp tục được phát triển bởi Long & Plosser (1983), Prescott (1986), King & Rebelo (1993) và sau đó được tổng hợp trong cuốn sách nổi tiếng “Frontiers of Business Cycle Research” của Cooley (1995).
Lý thuyết RBC được xây dựng dựa trên mô hình tăng trưởng của Ramsey1 trên nền tảng kinh tế học vi mô, trong đó hộ gia đình tối đa hóa lợi ích với ràng buộc về thu nhập, doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối thiểu hóa chi phí dựa trên ràng buộc về vốn, lao động và công nghệ, trong khi xã hội tối đa hóa phúc lợi xã hội. Các thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không có các nhân tố ma sát, các cá nhân có sở thích và doanh nghiệp có mục tiêu rõ ràng, đồng thời đều có kỳ vọng hợp lý, nghĩa là các hộ gia đình và doanh nghiệp không thể đưa ra các dự báo tốt hơn với thông tin cho trước. 1 Mô hình Ramsey không tính yếu tố sốc, tăng trưởng đều đặn và luôn đạt trạng thái cân bằng (không chứng minh sự tồn tại điểm cân bằng). Ngoài ra, các “stochastic shocks” là nguyên nhân dẫn đến chu kì kinh doanh.
Hệ quả là: bất kì can thiệp nào của Chính phủ nhằm giảm bớt mức độ dao động của nền kinh tế đều làm giảm phúc lợi xã hội vì nền kinh tế sẽ bị lệch khỏi xu hướng cân bằng (optimum path). 5 Trong quá trình phát triển của nhân loại, nền kinh tế luôn diễn ra theo các chu kỳ kinh tế. Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh thực cho rằng cách thức mà nền kinh tế phản ứng trước các cú sốc là diễn biến của các chu kỳ kinh doanh. Mô hình cho rằng các cú sốc về phía cung như năng suất lao động hay các cú sốc về kỹ thuật góp phần quan trọng nhất và việc thực hiện các chính sách chống lại sự biến động của chu kỳ kinh tế là không cần thiết.
Các cú sốc từ phía cầu cũng như sự cần thiết phải can thiệp vào nền kinh tế thông qua các công cụ ngắn hạn, như chính sách tài khóa và CSTT bị loại bỏ trong mô hình với giả định giá cả và tiền lương được điều chỉnh linh hoạt. Hay nói cách khác, mô hình này không công nhận sự ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến sản lượng và các biến số vĩ mô khác. Trên thực tế, tiền lương và giá cả đều là những yếu tố mang tính cứng nhắc danh nghĩa. Trong trường hợp nền kinh tế bước vào giai đoạn suy thoái, sản xuất suy giảm, nhu cầu đối với lao động giảm, song mức lương khó có thể giảm ngay lập tức như lý thuyết về cân bằng cung cầu bởi các doanh nghiệp vẫn cần giữ chân lao động giỏi và do đó sẽ lựa chọn cắt giảm chi phí ở các khoản mục khác.
Việc giảm lương chỉ có thể đến giai đoạn giữa của thời kỳ suy thoái khi các doanh nghiệp không còn đủ khả năng duy trì sản xuất và buộc phải cắt giảm sâu hơn chi phí sản xuất. Giá cả hàng hóa cũng mang yếu tố cứng nhắc danh nghĩa bởi khi giá cả đầu vào tăng lên, doanh nghiệp chưa thể chuyển tác động của việc tăng giá tới người mua ngay lập tức do lo ngại về khả năng cạnh tranh cũng như tác động từ hàng hóa thay thế. Việc loại bỏ vai trò của chính sách tiền tệ là nguyên nhân quan trọng khiến mô hình này không được các nhà hoạch định chính sách tại các NHTW chú ý dù nhận được sự quan tâm rất lớn của giới học thuật. Việc đưa giá cả cứng nhắc vào mô hình để phản ánh chính sách tiền tệ đã đặt nền tảng cho mô hình DSGE chuẩn theo lý thuyết New Keynesian.2 Lý thuyết Keynesian mới Kế thừa nền tảng vi mô từ Lý thuyết RBC, mô hình DSGE theo trường phái New Keynesian được phát triển và có bổ sung thêm yếu tố cứng nhắc danh nghĩa 6 từ giá hoặc tiền lương2.
Nói một cách khác, mô hình DSGE đưa lý thuyết kinh tế vi mô vào kinh tế vĩ mô bằng việc phát triển mô hình kinh tế động của Ramsay theo hướng đưa các yếu tố “ngẫu nhiên” vào và dùng nó để giải thích chu kì kinh doanh. Trên cơ sở kỳ vọng của các chủ thể trong nền kinh tế về tương lai, mô hình DSGE nghiên cứu nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi các cú sốc ngẫu nhiên từ sự lựa chọn và quyết định bởi các chủ thể gồm doanh nghiệp, hộ gia đình, chính phủ và NHTW. Sự tương tác giữa tác động của chính sách và hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế dựa trên mối quan hệ tương quan lẫn nhau giữa 3 khối: tổng cung, tổng cầu và khối phương trình CSTT tạo nên tính chất cân bằng chung của mô hình. Với giả định hoàn toàn dựa trên hành vi của các chủ thể trên thị trường, bao gồm: các hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, nhà sản xuất, nhà bán lẻ nên phương trình để xác định những khối này đều bắt nguồn từ nền tảng vi mô.
Ba cấu phần chính của mô hình DSGE bao gồm: động, kỳ vọng và cân bằng tổng quan, trong đó nhân tố động là các yếu tố về độ trễ (quá khứ) được đưa vào mô hình, còn yếu tố kỳ vọng và cân bằng tổng quan là 2 yếu tố được cải tiến từ mô hình RBC. 2 Lương cũng là giá giữa người thuê và người được thuê thỏa thuận với nhau thông qua hợp đồng lao động. Mô hình DSGE biểu diễn Hình 1. Mô hình DSGE biểu diễn mối quan hệ giữa các chủ thể trong sự tham gia của Ngân hàng Trung nền kinh tế3 ương Nguồn: Phuc Huynh, Trang Nguyen, Nguồn: Schorfheide (2000), Griffoli Thanh Duong và Duc Pham (2017).
Một trong những nền tảng của lý thuyết DSGE là đường cong Philips, phản ánh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng hoặc lao động. Đường cong Phillips, lý thuyết kinh tế thống trị cho tới tận giai đoạn 1960, cho rằng một quốc gia có thể đạt được mức thất nghiệp thấp hơn hoặc với mức sản lượng cao hơn với mức lạm phát cao hơn. Tuy nhiên, lý thuyết này không thể giải thích được tình trạng lạm phát và tăng trưởng đều ở mức âm sau khủng hoảng giai đoạn 1973. Điều này xuất phát từ thực tế cho rằng chính sách tiền tệ không giải quyết được vấn đề thất nghiệp cơ cấu và tốc độ tăng trưởng tiềm năng thấp.
Trong dài hạn, đường Philips là đường thẳng đứng, có nghĩa là dù với mức lạm phát bao nhiêu, tỷ lệ thất nghiệp cũng không đổi, đồng nghĩa với việc chính sách tiền tệ không thể tác động tới các biến thực trong dài hạn. Do đó, để xử lý vấn đề này, đường cong Philips trong mô hình DSGE đã được bổ sung thêm yếu tố kỳ vọng lạm phát.