Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khoa học cấp Bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) do TS. Nguyễn Ngọc Hiến làm chủ nhiệm, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia thuộc Bộ Nội vụ vào năm 2003. Công trình nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh công cuộc đổi mới kinh tế tại Việt Nam đã vận hành từ cuối năm 1986 và bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình đổi mới quản lý tài chính công đã được bắt đầu nghiên cứu từ giữa những năm 1980; tiếp sau đó, nhiều đạo luật quan trọng được ban hành như hệ thống các luật thuế và Luật Ngân sách nhà nước năm 1996. Việc triển khai các luật thuế trong chương trình cải cách thuế giai đoạn II cùng Luật Ngân sách nhà nước bước đầu đã thúc đẩy sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại thu - chi và kiểm soát bội chi ngân sách ở mức hợp lý.
Tuy nhiên, thực tiễn quản lý tài chính công giai đoạn này bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập cần giải quyết:
- Hệ thống chính sách thuế ban hành từ cuối thập niên 1980 và sửa đổi trong thập niên 1990 không còn phù hợp với thực tế vận hành kinh tế thị trường, chưa bao quát hết các nguồn thu.
- Tình trạng thất thu ngân sách, nợ đọng thuế và khê đọng nguồn thu còn diễn ra trên quy mô lớn, gây cản trở việc huy động các nguồn lực tài chính quốc gia.
- Công tác sử dụng và quản lý nguồn lực tài chính nhà nước còn lãng phí, kém hiệu quả; bao cấp chưa được khắc phục triệt để; các khoản chi ngân sách bị dàn trải cho nhiều mục tiêu.
- Mối quan hệ tài chính và cơ chế phân cấp ngân sách giữa chính quyền trung ương và địa phương đòi hỏi phải đổi mới để phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, đặt ra yêu cầu bức thiết về việc Quốc hội phải sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 cùng hệ thống pháp luật thuế.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Nghiên cứu hệ thống lý luận cơ bản về tài chính công, bao gồm bản chất, đặc điểm, vai trò và chức năng của tài chính công trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam thời gian qua (tập trung vào giai đoạn 1991-2001/2002), chỉ rõ những thành tựu cùng các tồn tại, nguyên nhân yếu kém.
- Đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời kỳ mới.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tài chính công dưới giác độ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn các nội dung cơ bản của tài chính công, bao gồm hoạt động đánh thuế và chi tiêu ngân sách nhà nước trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Về mặt thời gian, dữ liệu phân tích thực trạng bao quát giai đoạn 1991-2001 và đánh giá hạn chế đến năm 2002.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Đề tài tiếp cận hệ thống lý thuyết tài chính công thông qua hai giác độ nhận thức:
- Giác độ môn khoa học: Tài chính công là ngành khoa học (hoặc một bộ phận của kinh tế học) nghiên cứu, phân tích các hoạt động đánh thuế và chi tiêu của chính phủ (bao gồm cả chính quyền trung ương và địa phương) cùng tác động của các hoạt động đó đến việc phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô. Tác giả tham chiếu các quan điểm học thuật quốc tế của Christopher Pass, Bryan Lowes, Leslie Davies; Harvey S. Rosen (đồng nhất tài chính công với kinh tế học khu vực công); Joseph E. Stiglitz; Robert Haveman và John Bascom.
- Giác độ thực thể: Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội. Đề tài tham chiếu các nghiên cứu trong nước của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng, TS. Đỗ Văn Thành, PGS. Lê Thế Tường và Giáo trình Quản lý tài chính nhà nước của Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội (năm 2000).
Đề tài phân định rõ ràng giữa tài chính công và tài chính nhà nước dựa trên ba tiêu chí:
- Nguồn thu: Tài chính công gắn liền với nguồn thu ngân sách nhà nước (thuế, phí, lệ phí, tín dụng nhà nước); trong khi tài chính nhà nước bao quát cả các nguồn thu ngoài ngân sách (quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí, quỹ hỗ trợ đầu tư).
- Mục đích hoạt động: Tài chính công không nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận; tài chính nhà nước bao hàm cả hoạt động kinh doanh sinh lời tại các doanh nghiệp nhà nước.
- Mục đích chi tiêu: Tài chính công chỉ phục vụ các chức năng vốn có của nhà nước; tài chính nhà nước bao gồm cả chi tiêu cung ứng hàng hóa, dịch vụ thông thường của doanh nghiệp nhà nước.
Về nền tảng lý thuyết kinh tế học, công trình phân tích sự tiến hóa của các học thuyết can thiệp vĩ mô:
- Trường phái cổ điển và tân cổ điển: Adam Smith với tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776), nguyên lý "bàn tay vô hình", chủ trương thị trường tự điều tiết, nhà nước không can thiệp kinh tế và nguyên tắc "ngân sách tốt nhất là ngân sách cân bằng"; cùng các học giả William Petty, Boisguillebert, Francois Quesnay, Turgot, John Stuart Mill, Nassau Senior.
- Học thuyết Keynes: John Maynard Keynes lý giải các thất bại của thị trường (độc quyền, ngoại ứng tiêu cực, thông tin bất cân xứng, thiếu hụt hàng hóa công cộng) dẫn tới khủng hoảng 1929-1933; đưa ra mô hình số nhân chi tiêu, hàm tiêu dùng, hiệu quả đầu tư cận biên để chứng minh nhà nước cần chủ động dùng ngân sách kích cầu nhằm đạt trạng thái toàn dụng nhân công.
- Lý thuyết tài chính công của Richard Musgrave: Mở rộng mục tiêu can thiệp của chính sách tài khóa vượt ra ngoài ổn định ngắn hạn, xác lập ba chức năng kinh điển: phân bổ nguồn lực hiệu quả, phân phối thu nhập công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô.
- Mô hình kinh tế hỗn hợp hiện đại: Kết hợp giữa "bàn tay vô hình" của thị trường và "bàn tay hữu hình" của nhà nước; sử dụng nguyên lý Pareto (đường cong giới hạn khả năng lợi ích, cải thiện Pareto) để đánh giá tính hiệu quả và đường cong Lorenz để đánh giá tính công bằng trong phân phối thu nhập sau thuế và trợ cấp.
| Trường phái / Mô hình lý thuyết |
Đại diện tiêu biểu |
Quan điểm về vai trò của Nhà nước |
Vai trò của Ngân sách / Tài chính công |
| Kinh tế học Cổ điển & Tân cổ điển |
Adam Smith, J.S. Mill, Nassau Senior |
Nhà nước tối thiểu, không can thiệp sản xuất kinh doanh; thị trường tự điều chỉnh. |
Duy trì bộ máy, trật tự xã hội; nguyên tắc ngân sách cân bằng tuyệt đối. |
| Học thuyết Keynes |
John Maynard Keynes |
Khắc phục thất bại thị trường; kích cầu thông qua can thiệp vĩ mô khi suy thoái. |
Công cụ kích cầu; dùng chi tiêu công và mô hình số nhân đưa nền kinh tế về mức toàn dụng. |
| Lý thuyết Tài chính công hiện đại |
Richard Musgrave |
Điều tiết kinh tế gắn với các mục tiêu xã hội, công bằng cơ hội và khắc phục cú sốc. |
Thực hiện 3 chức năng: phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập và ổn định vĩ mô. |
| Mô hình Kinh tế hỗn hợp |
Kinh tế học vĩ mô hiện đại |
Kết hợp hài hòa giữa cơ chế thị trường và sự điều tiết có giới hạn của Chính phủ. |
Điều chỉnh linh hoạt thu - chi; khắc phục khuyết tật thị trường, duy trì bội chi ở mức an toàn. |
Phương pháp nghiên cứu được đề tài sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Khái quát hóa, phân loại và hệ thống hóa các quan điểm kinh tế học công cộng và khoa học hành chính.
- Phương pháp thu thập số liệu: Tập hợp các báo cáo thống kê, văn bản quy phạm pháp luật và quyết toán ngân sách nhà nước.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa cơ chế chính sách tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Phương pháp thống kê: Xử lý chuỗi số liệu tài chính công qua các giai đoạn.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu kinh tế và tài chính công.
Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Ngân sách nhà nước 1996, các luật thuế ban hành và sửa đổi qua các thời kỳ); số liệu báo cáo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng tài liệu nghiên cứu của Học viện Hành chính Quốc gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Lý luận chung về tài chính công và quản lý tài chính công
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận, các thuộc tính, nguyên tắc và công cụ quản trị tài chính công:
- Khái niệm và đặc điểm tài chính công: Xác định tài chính công bao gồm ngân sách nhà nước, dự trữ nhà nước, tín dụng nhà nước, tài chính các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp nhà nước. Tài chính công có bốn đặc điểm cốt lõi: phản ánh sự hình thành, sử dụng quỹ tiền tệ phục vụ lợi ích chung; chủ thể duy nhất là Nhà nước (Quốc hội là cơ quan cao nhất quyết định dự toán, phân bổ, phê chuẩn quyết toán); mang tính công cộng sâu sắc; có sự kết hợp giữa tính hoàn trả và không hoàn trả, tính bắt buộc và tự nguyện.
- Vai trò và chức năng: Phân tích năm vai trò lớn gồm: huy động nguồn lực tài chính cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa; điều chỉnh kinh tế vĩ mô và khuyến khích kinh tế vi mô; bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; định hướng và dẫn dắt hệ thống tài chính quốc dân; thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội. Thực hiện bốn chức năng: phân bổ nguồn lực (hướng tới hiệu quả Pareto), phân phối thu nhập (thông qua thuế lũy tiến, trợ cấp xã hội, đo lường bằng đường cong Lorenz), ổn định kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng.
- Quản lý tài chính công: Luận giải bản chất quản lý tài chính công thông qua bốn đặc điểm: được quản lý bằng pháp luật và theo kế hoạch; đặc biệt coi trọng biện pháp tổ chức - hành chính; kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố con người và yếu tố tài chính; bảo đảm sự thống nhất giữa giá trị và hiện vật (giá trị sử dụng).
- Quan điểm và mục tiêu quản lý: Xác lập bốn quan điểm quản lý chủ chốt: phục vụ chính trị (bảo đảm tài chính cho hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động bộ máy nhà nước, quốc phòng, an ninh); thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội; phát huy nội lực; tiết kiệm có hiệu quả (chi thường xuyên không được vượt quá nguồn thu thuế và phí; vốn vay nợ không được chi cho tiêu dùng mà chỉ dành cho đầu tư phát triển; giữ bội chi ngân sách ở mức chấp nhận được quanh ngưỡng 3% GDP).
- Nội dung và công cụ quản lý: Nội dung gồm quản lý quá trình thu (động viên kịp thời, công bằng, tập trung vào Kho bạc Nhà nước), quản lý quá trình chi (chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ gốc, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính), và quản lý cân đối thu - chi. Hệ thống công cụ quản lý gồm năm nhóm: pháp luật; kế hoạch hóa; chính sách kinh tế vĩ mô; thanh tra, kiểm tra, kế toán, kiểm toán; tổ chức bộ máy.
- Bộ máy quản lý: Tiếp cận theo nghĩa rộng (tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách) và nghĩa trực tiếp (Bộ Tài chính cùng các đơn vị trực thuộc như Tổng cục Thuế, Tổng cục Đầu tư phát triển, Kho bạc Nhà nước, cơ quan tài chính địa phương). Phân định thẩm quyền cụ thể của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và chính quyền địa phương các cấp.
Chương II: Thực trạng quản lý tài chính công ở nước ta thời gian qua
Nội dung chương tập trung phản ánh bức tranh thực tế về công tác quản lý tài chính công từ trước đổi mới đến giai đoạn 1991-2001/2002:
- Quản lý tài chính công trước thời kỳ đổi mới và bước chuyển trong thời kỳ đổi mới: Phân tích cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, nơi tài chính công chủ yếu là phân phối hiện vật và bao cấp tràn lan, triệt tiêu động lực sản xuất. Từ cuối năm 1986, nền tài chính công chuyển đổi theo hướng phục vụ kinh tế nhiều thành phần, mở rộng cơ sở tiền tệ hóa và thiết lập thể chế quản lý bằng pháp luật.
- Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước thời kỳ 1991-2001: Đánh giá kết quả triển khai hệ thống thuế sau cải cách bước II. Mặc dù số thu tăng trưởng qua các năm, công tác quản lý thu vẫn gặp trở ngại do chính sách thuế chưa đồng bộ, cơ sở thu bị xói mòn bởi thất thu, nợ đọng thuế, khê đọng thuế lớn, và công tác hành chính thuế chưa bao quát hết khu vực ngoài quốc doanh.
- Thực trạng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 1991-2001: Phân tích cơ cấu chi tiêu chính phủ. Cơ cấu chi đã chuyển biến tích cực thông qua việc cắt giảm triệt để bao cấp giá và lỗ, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, ưu tiên chi cho giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo. Tuy vậy, công tác quản lý chi vẫn còn tình trạng phân bổ dàn trải, định mức chi tiêu lạc hậu, thanh quyết toán chậm trễ và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản.
- Đánh giá thực trạng nợ chính phủ của Việt Nam: Xem xét cơ cấu nợ trong nước và nợ nước ngoài dùng để bù đắp thâm hụt ngân sách; phân tích năng lực trả nợ, việc sử dụng vốn vay cho các công trình hạ tầng và những rủi ro liên quan đến nghĩa vụ nợ quốc gia.
- Những hạn chế của quản lý tài chính công giai đoạn 1991-2002: Tổng kết sáu hạn chế lớn về mặt thể chế: Luật Ngân sách nhà nước 1996 bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp; thẩm quyền phân cấp giữa trung ương và địa phương thiếu rành mạch; phương thức quản lý cấp phát kinh phí hành chính sự nghiệp nặng về kiểm soát yếu tố đầu vào (biên chế, hóa đơn chứng từ) mà không gắn với chất lượng sản phẩm đầu ra; thiếu cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công; công tác kiểm toán ngân sách chưa được quy định mang tính bắt buộc diện rộng.
Chương III: Các giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời gian tới
Chương này đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính công tại Việt Nam:
- Mục tiêu và nguyên tắc đổi mới: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước; chuyển từ cơ chế kiểm soát đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra; nêu cao ý thức thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.
- Tăng cường quản lý nhà nước về thuế và thu thuế: Hoàn thiện chính sách thuế phù hợp với thông lệ quốc tế và tiến trình hội nhập khu vực ASEAN; mở rộng cơ sở đánh thuế, bao quát các nguồn thu mới; đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, hiện đại hóa công tác thu nộp qua Kho bạc Nhà nước; tăng cường thanh tra, xử lý kiên quyết các vi phạm về trốn lậu thuế và nợ đọng thuế.
- Đổi mới và hoàn thiện chính sách chi tiêu của Chính phủ: Cơ cấu lại các khoản chi, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt, khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống định mức chi tiêu khoa học; thí điểm và nhân rộng cơ chế tự bảo đảm chi phí thường xuyên, tiền lương đối với các đơn vị dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, phát thanh, truyền hình, vệ sinh công cộng; áp dụng phương thức Nhà nước mua sản phẩm, dịch vụ công theo chất lượng và tiến độ thay vì cấp phát bình quân.
- Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý và hoàn thiện hệ thống ngân sách nhà nước: Bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương đi đôi với việc tăng cường tính chủ động, tự chủ của chính quyền địa phương; sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 theo hướng quy định Quốc hội quyết định tổng số thu, chi và chỉ tiêu chi tiết theo từng lĩnh vực, tương tự Hội đồng nhân dân các cấp quyết định ngân sách cấp mình chi tiết theo lĩnh vực.
- Hoàn thiện quy trình quản lý ngân sách nhà nước: Cải tiến căn bản các khâu lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; rà soát, chuẩn hóa thủ tục kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước; mở rộng hoạt động kiểm toán ngân sách theo hướng bắt buộc, đồng thời nghiên cứu tạo lập cơ chế hoạt động thích hợp nhằm bảo đảm tính độc lập tương đối của cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
- Tăng cường khuyến khích đầu tư: Kết hợp hiệu quả nguồn lực tài chính nhà nước với nguồn lực của nhân dân và các thành phần kinh tế; đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực dịch vụ công cộng; tạo lập môi trường tài chính minh bạch để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Kết quả và đóng góp
Công trình nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể về cả phương diện học thuật lẫn thực tiễn quản lý:
- Phân định rõ nội hàm học thuật giữa tài chính công và tài chính nhà nước: Đề tài đã hệ thống hóa các cách tiếp cận tài chính công của các trường phái kinh tế thế giới và các tác giả trong nước; chỉ ra ba ranh giới phân biệt giữa tài chính công và tài chính nhà nước về nguồn thu, tính chất phi lợi nhuận và chức năng phục vụ nhà nước.
- Hệ thống hóa các nguyên tắc quản lý tài khóa an toàn: Luận giải cơ sở khoa học của việc duy trì bội chi ngân sách nhà nước ở mức an toàn (quanh ngưỡng 3% GDP), xác lập nguyên tắc kỷ luật ngân sách nghiêm ngặt: nguồn thu từ thuế và phí phải bảo đảm chi thường xuyên và có tích lũy cho đầu tư; các khoản vay nợ trong và ngoài nước tuyệt đối không được dùng cho chi tiêu dùng mà phải dành cho chi đầu tư phát triển.
- Đề xuất đột phá về phương thức quản lý chi tiêu công: Đề tài là một trong những công trình quản lý hành chính sớm kiến nghị việc chuyển đổi từ quản lý ngân sách theo yếu tố đầu vào (kiểm soát số lượng biên chế, hóa đơn, chứng từ chi tiêu) sang phương thức quản lý theo sản phẩm đầu ra (giao quyền chủ động kinh phí gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ); kiến nghị cơ chế Nhà nước đặt hàng, mua dịch vụ công từ các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Đóng góp trực tiếp vào công tác lập pháp: Các luận cứ khoa học và phân tích thực trạng của đề tài phục vụ trực tiếp cho quá trình nghiên cứu, sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 (được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004), cũng như lộ trình cải cách hệ thống các luật thuế, cơ chế phân cấp ngân sách trung ương - địa phương và vị thế pháp lý của Kiểm toán Nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai nhánh cốt lõi của tài chính công là thuế và chi tiêu ngân sách nhà nước dưới góc độ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước, chưa đi sâu phân tích chi tiết cơ chế vận hành độc lập của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách (như Quỹ Hỗ trợ đầu tư, Quỹ Bảo hiểm xã hội).
- Dữ liệu thực nghiệm của đề tài chỉ bao quát đến giai đoạn 1991-2001/2002, do đó các phân tích gắn liền với bối cảnh trước khi Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2002 chính thức đi vào cuộc sống.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá tác động thực tế của Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) sau khi được ban hành và đi vào thực thi, đặc biệt là sự chuyển biến trong mối quan hệ phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương và trung ương.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế khoán kinh phí quản lý hành chính, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo mô hình hạch toán chi phí và định giá sản phẩm dịch vụ công.
- Nghiên cứu mô hình hoàn thiện thể chế pháp lý nhằm củng cố tính độc lập, chuyên nghiệp và hiệu lực cưỡng chế thực hiện các kết luận kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
Giá trị tham khảo
Đề tài khoa học mã số 2000-98-083 là tài liệu tham khảo có giá trị trong các lĩnh vực:
- Đối tượng thụ hưởng: Cán bộ nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công, Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Luật Kinh tế; cán bộ làm công tác chuyên môn tại Bộ Tài chính, cơ quan Thuế, Kho bạc Nhà nước, cơ quan Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan tham mưu tài chính - ngân sách của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp.
- Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Chương I cung cấp khung lý thuyết toàn diện, mạch lạc về sự khác biệt giữa tài chính công và tài chính nhà nước, các chức năng của tài chính công theo lý thuyết kinh tế hiện đại (Musgrave, Keynes, Pareto, Lorenz).
- Chương II là nguồn tài liệu tổng kết thực tiễn có giá trị về quá trình chuyển dịch thể chế tài chính từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường trong giai đoạn 1991-2001.
- Chương III mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với các đề tài nghiên cứu về đổi mới phân cấp ngân sách nhà nước, xã hội hóa dịch vụ công và chuyển đổi mô hình quản lý ngân sách từ yếu tố đầu vào sang kết quả đầu ra.
Câu hỏi thường gặp
Tài chính công khác với tài chính nhà nước ở những điểm cốt lõi nào theo luận giải của đề tài?
Tài chính công là bộ phận hạt nhân của tài chính nhà nước nhưng khác biệt ở ba đặc trưng: thứ nhất, tài chính công chỉ gắn với nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế, phí, lệ phí và tín dụng nhà nước (tài chính nhà nước bao gồm thêm các quỹ ngoài ngân sách); thứ hai, tài chính công không gắn với mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận (tách biệt với tài chính của các doanh nghiệp nhà nước); thứ ba, tài chính công chỉ thực hiện chi tiêu cho các chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội.
Đề tài vận dụng lý thuyết của Richard Musgrave như thế nào để luận giải chức năng của tài chính công?
Đề tài dựa trên tác phẩm "Tài chính công - Lý thuyết và chính sách" của Richard Musgrave để chứng minh rằng, ngoài việc khắc phục các thất bại của thị trường nhằm đạt hiệu quả Pareto, chính phủ phải chịu tác động của tư tưởng chính trị và xã hội. Từ đó, Musgrave xác lập ba chức năng nền tảng của tài chính công mà đề tài tiếp thu: chức năng phân bổ nguồn lực (cung cấp hàng hóa công cộng), chức năng phân phối (điều chỉnh phân phối thu nhập, tài sản công bằng) và chức năng ổn định (duy trì việc làm cao, ổn định giá cả và cán cân thanh toán).
Vì sao đề tài đề xuất chuyển đổi phương thức quản lý ngân sách từ "kiểm soát đầu vào" sang "quản lý sản phẩm đầu ra"?
Theo đề tài, phương thức quản lý đầu vào truyền thống tập trung quá mức vào việc kiểm soát chỉ tiêu biên chế và chứng từ chi phí, làm nảy sinh tâm lý xin - cho, triệt tiêu động lực tiết kiệm và khiến các cơ quan hành chính liên tục đòi hỏi tăng biên chế, tăng kinh phí. Chuyển sang quản lý sản phẩm đầu ra sẽ giao quyền chủ động về ngân sách cho đơn vị sử dụng, gắn kinh phí với kết quả thực hiện nhiệm vụ và chất lượng công việc, qua đó khuyến khích sắp xếp lại lao động, nâng cao hiệu suất làm việc và tiết kiệm chi tiêu công.
Nguyên tắc sử dụng vốn vay nợ và kiểm soát bội chi ngân sách được đề tài xác định ra sao?
Đề tài nêu rõ quan điểm: chi thường xuyên của nhà nước phải được bảo đảm bằng nguồn thu thuế và phí; các nguồn vốn vay nợ (cả trong nước và ngoài nước) tuyệt đối không được sử dụng cho mục đích chi tiêu dùng thường xuyên mà chỉ được dành riêng cho chi đầu tư phát triển. Đồng thời, bội chi ngân sách nhà nước phải được kiểm soát ở mức hợp lý, chấp nhận được là quanh ngưỡng 3% GDP để kiềm chế lạm phát và bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.
Đề tài kiến nghị đổi mới thẩm quyền quyết định dự toán ngân sách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân như thế nào?
Đề tài đề xuất sửa đổi thẩm quyền quyết định ngân sách theo hướng: Quốc hội thông qua tổng số thu, tổng số chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu chi tiết phân bổ theo từng lĩnh vực chuyên môn (thay vì can thiệp vào các danh mục chi tiết vụn vặt). Tương tự, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định dự toán ngân sách cấp mình và thông qua tổng số ngân sách địa phương chi tiết theo từng lĩnh vực, nhằm tăng cường tính độc lập, tự chủ và thẩm quyền của chính quyền địa phương.
Kết luận
Đề tài khoa học cấp Bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) của TS. Nguyễn Ngọc Hiến là công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn có tính hệ thống cao về cơ chế vận hành tài chính công trong thời kỳ đổi mới. Đề tài đã làm rõ ranh giới học thuật của tài chính công, đồng thời tổng kết thực trạng thu - chi ngân sách và nợ chính phủ Việt Nam giai đoạn 1991-2001/2002. Hệ thống giải pháp được đề xuất—đặc biệt là cơ chế quản lý chi tiêu theo kết quả đầu ra, phân cấp ngân sách rành mạch và kiểm toán ngân sách bắt buộc—đã đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế quản lý tài chính công và sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước tại Việt Nam.