phần mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiến về ngoại hối và quản lý ngoại hối. Tổng quan về ngoại hối và quản lý ngoại hối 1. Chất lƣợng công tác quản lý ngoại hối 1. Mối quan hệ giữa công tác quản lý ngoại hối với các chính sách khác.
Kinh nghiệm về quản lý ngoại hối của một số nƣớc trong khu vực 8 z Chƣơng 2: Thực trạng và chất lượng quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam 2. Chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam 2. Thực trạng về công tác quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam 2. Đánh giá chất lƣợng quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam 3.
Quan điểm, định hƣớng để nâng cao chất lƣợng quản lý ngoại hối 3. Một số giải pháp cụ thể để nâng cao chất lƣợng quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam 3. Một số giải pháp hỗ trợ khác 3. Một số kiến nghị đối với các Bộ, ngành liên quan nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý ngoại hối trong thời gian tới.
9 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGOẠI HỐI VÀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI 1. Tổng quan về ngoại hối và quản lý ngoại hối 1. Khái niệm về ngoại hối Cùng với quá trình toàn cầu hoá, việc trao đổi hàng hoá ngày nay diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới. Trong quá trình này, phƣơng thức trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ…giữa các quốc gia ngày càng mở rộng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, hiện đại.
Sự phát triển của hệ thống thƣơng mại quốc tế và các quan hệ tín dụng đầu tƣ, kinh doanh giữa các quốc gia đòi hỏi phải có các phƣơng tiện thanh toán chung. Các phƣơng tiện này đƣợc gọi chung là ngoại hối và đƣợc sử dụng làm phƣơng tiện thanh toán và dự trữ quốc tế bên cạnh việc sử dụng công cụ dự trữ truyền thống là vàng. Tuỳ cách tiếp cận mà ngoại hối có thể đƣợc hiểu không hoàn toàn đồng nhất mà có thể theo cách khác nhau. Những ngƣời kinh doanh ngoại hối thƣờng hiểu ngoại hối là các phƣơng tiện thanh toán thể hiện dƣới dạng ngoại tệ, bao gồm: tiền mặt, hối phiếu séc bằng ngoại tệ và số dƣ có trên tài khoản tại ngân hàng nƣớc ngoài.
Hoặc có ngƣời lại hiểu ngoại hối là toàn bộ các loại tiền nƣớc ngoài, các phƣơng tiện chi trả có giá trị bằng tiền nƣớc ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị có khả năng mang lại ngoại tệ nào đó và toàn bộ các kim khí quí, đá quí… Tuy nhiên, các nƣớc trên thế giới đều thống nhất với định nghĩa về ngoại hối của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Theo định nghĩa của IMF, ngoại hối bao gồm: 10 z a. Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực và đƣợc gọi chung là ngoại tệ; b. Phƣơng tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phƣơng tiện thanh toán khác; c.
Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; d. Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nƣớc, trên tài khoản ở nƣớc ngoài của ngƣời cƣ trú, vàng dƣới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trƣờng hợp mang vào, mang ra khỏi lãnh thổ một nƣớc; đ. Đồng tiền của nƣớc bản tệ trong trƣờng hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ hoặc đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế. Nhƣ vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, ngoại hối có thể định nghĩa là đồng tiền chung đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế bao gồm ngoại tệ tiền mặt, ngoại tệ trên tài khoản ở ngân hàng nƣớc ngoài; các phƣơng tiện thanh toán bằng ngoại tệ, các loại kim khí quí, đá quý.
Quản lý ngoại hối, mục tiêu và vai trò của quản lý ngoại hối Quản lý ngoại hối là quản lý hoạt động ngoại hối hay quản lý hoạt động của ngƣời cƣ trú, ngƣời không cƣ trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối. Quản lý ngoại hối là một bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc đối với nền kinh tế, nhất là trong kinh tế đối ngoại. Đó là những thể chế, những qui định pháp lý của Chính phủ về hoạt động ngoại hối, trong các lĩnh vực tỷ giá, luân chuyển dự trữ ngoại hối, vàng bạc, vay trả nợ nƣớc ngoài…. 11 z Cụ thể hơn, quản lý ngoại hối là phƣơng thức Nhà nƣớc thực hiện một chế độ quản lý nhằm bảo đảm ổn định thị trƣờng ngoại hối trong nƣớc, duy trì cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tỷ giá, thúc đẩy kinh tế phát triển; đồng thời kiểm soát đƣợc các luồng vận động ngoại hối có liên quan tới quan hệ thƣơng mại cũng nhƣ các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ.
Quản lý ngoại hối tác động đến sự ổn định của nền kinh tế, tạo ra thế cân bằng giữa kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại. Mục tiêu của quản lý ngoại hối là ban hành các qui định, chính sách về ngoại hối nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Trên cơ sở đó góp phần đẩy mạnh sự tăng trƣởng, phát triển nền kinh tế quốc dân. Quản lý ngoại hối có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Các chính sách, qui định về ngoại hối phù hợp sẽ tác động đến các luồng vận động ngoại hối, đồng thời tác động trực tiếp vào tỷ giá, hoạt động xuất nhập khẩu cũng nhƣ các hoạt động kinh tế của đất nƣớc. Ví dụ, khi tỷ giá hối đoái đƣợc xác định đúng, phù hợp với cung cầu ngoại tệ của đất nƣớc thì ngoại thƣơng phát triển, tăng cƣờng quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ.từ đó thúc đẩy và mở rộng sản xuất hàng hoá, dịch vụ trong nƣớc, tạo công ăn việc làm, tăng trƣởng kinh tế. Mặt khác, việc quản lý luồng vốn ra, vào lãnh thổ nhƣ thế nào cho hợp lý sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện mục tiêu chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, vai trò của quản lý ngoại hối thể hiện ở năm điểm chính sau: - Thiết lập hệ thống qui định, chính sách để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngoại hối, tăng lòng tin của dân chúng vào chính sách tiền tệ của quốc gia; - Duy trì cân bằng và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; 12 z - Đảm bảo cho thị trƣờng tiền tệ, thị trƣờng ngoại hối phát triển bền vững; - Đảm bảo ổn định tỷ giá phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô từng thời kỳ, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế; - Kiểm soát hiệu quả luồng vốn vào, ra để hạn chế những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế.
Cơ quan quản lý ngoại hối Cơ quan quản lý ngoại hối là do Chính phủ chỉ định hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho cơ quan quản lý thông qua việc thực hiện các văn bản pháp quy về quản lý ngoại hối nhƣ Luật, Pháp lệnh, Điều lệ, Quy chế… về quản lý ngoại hối. Thông thƣờng, NHTW hoặc Bộ Tài chính là cơ quan quản lý ngoại hối theo điều kiện của mỗi nƣớc. Tuy nhiên, ở hầu hết các nƣớc, cơ quan quản lý ngoại hối nằm tại Ngân hàng Trung ƣơng: Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan. Ở Việt Nam, cơ quan quản lý ngoại hối cũng nằm trong Ngân hàng Trung ƣơng để thuận tiện cho việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Đối tƣợng quản lý ngoại hối Là tổ chức, cá nhân ngƣời cƣ trú, ngƣời không cƣ trú có hoạt động ngoại hối tại nƣớc sở tại và các đối tƣợng khác liên quan đến hoạt động ngoại hối. Người cư trú là các cá nhân, tổ chức bao gồm: - Tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế đƣợc thành lập, hoạt động kinh doanh theo luật hiện hành của một nƣớc. - Cơ quan nhà nƣớc, đơn vị lực lƣợng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của một nƣớc hoạt động tại nƣớc đó. - Văn phòng đại diện tại nƣớc ngoài của các tổ chức nói trên.
13 z - Các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của một nƣớc tại nƣớc ngoài. - Công dân của một nƣớc cƣ trú tại nƣớc đó và cƣ trú ở nƣớc ngoài có thời hạn dƣới 12 tháng; cá nhân làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, văn phòng đại diện của các tổ chức nƣớc ngoài. - Công dân một nƣớc đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở nƣớc ngoài. - Ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú có thời hạn từ 12 tháng trở lên ở một nƣớc khác, trừ các trƣờng hợp ngƣời nƣớc ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch hoặc làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, văn phòng đại diện của các tổ chức nƣớc ngoài ở một nƣớc.
Người không cư trú là tổ chức, cá nhân bao gồm: - Tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng nƣớc ngoài đƣợc thành lập và hoạt động kinh doanh ở nƣớc ngoài; - Cơ quan nhà nƣớc, đơn vị lực lƣợng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của nƣớc ngoài hoạt động tại nƣớc ngoài. - Các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nƣớc ngoài hoạt động tại nƣớc sở tại, ngƣời nƣớc ngoài làm việc trong các tổ chức này và những cá nhân đi theo họ. - Văn phòng đại diện của tổ chức kinh tế nƣớc ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nƣớc ngoài hoạt động tại nƣớc sở tại. - Ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại nƣớc ngoài, ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại nƣớc khác có thời hạn dƣới 12 tháng - Công dân của một nƣớc cƣ trú ở nƣớc ngoài có thời hạn dƣới 12 tháng; 14 z - Ngƣời nƣớc ngoài đến du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở một nƣớc khác.