MỞ ĐẦU: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Dự báo các biến số kinh tế là vấn đề mà các nhà kinh tế và các nhà hoạchđịnh chính sách đều quan tâm khi lập kế hoạch cho đơn vị của mình. Kết quả dự báo càng chính xác thì kế hoạch lập ra sẽ càng khả thi. Có nhiều mô hình khác nhau đƣợcứng dụng trong việc dự báo. Các mô hình này có thể chia ra làm 2 dạngđó là môhình kinh tế lƣợng và mô hình mạng thần kinh nhân tạo.
Mỗi mô hình dự báo đều cóƣu và nhƣợcđiểm riêng. Đối vớimô hình hình kinh tế lƣợng, mô hìnhARIMA đƣợc xem là một sự lựa chọn tốt. Theo Khashei & Bijari (2011) mô hìnhARIMA phù hợp cho việc dự báo đối với những quan hệ tuyến tính. Còn đối với các mối quan hệ phi tuyến, mô hìnhARIMA không phải là sự lựa chọn tốt.
Mô hình mạng thần kinh nhân tạo (ANN) đƣợc đặt nền móng vào đầu những năm 1940 nhƣng chỉ thực sự phát triển vào những năm 1990 khi khoa học máy tính phát triển. Tại Việt Nam, Lê Đạt Chí (2010) đãứng dụng mô hình ANN vào dự báo giá chứng khoán vàđã thu đƣợc những kết quả khả quan. Theo Zhang (2003) thì mô hình ANN phù hợp cho việc dự báo những quan hệ phi tuyến. Tuy nhiên, đối với những biến số kinh tế, giá trị hiện tại của chúng thƣờng có quan hệ vừa có quan hệ tuyến tính vừa có quan hệ phi tuyến đối với giá trị của chúng trong quá khứ.
Chính vì vậy nếu ta chỉ sử dụng mô hìnhARIMA hoặc ANN để dự báo những biến số này thì kết quả vẫn thực sự chƣa hoàn hảo(Duzgun, 2010). Bài viết này nhằm nghiên cứu khả năng kết hợp của mô hìnhARIMA và mô hình ANN trong dự báo lạm phát theo tháng tại Việt Nam từđóđƣa ra một số kiến nghị liên quan đến việcứng dụng của các mô hình. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu lý thuyết mô hìnhARIMA và ANN Thu thập dữ liệu lạm phát của Việt Nam và những biến số giải thích có liên quan đến mô hình Ứng dụng mô hình ARIMA và ANN vào dự báo lạm phát cho Việt Nam Trang 1 Luan van Tìm mô hình dự báo lạm phát tối ƣu cho Việt Nam Đƣa ra một số gợiý chính sách Phạm vi nghiên cứu Đề tài giới hạn trong việc sử dụng mô hình ARIMA và ANN trong việc dự báo lạm phát. Dữ liệu cho dự báo lạm phát đƣợc sử dụng từ 2004-2013 Đề tài đƣợc thực hiện từ tháng 12-2013 đến tháng 11-2014.
Đề tài đƣợc thực hiện tại khoa kinh tế đại học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM, các số liệu đƣợc thu thập là dữ liệu thứ cấp về các thông số kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài nhằmứng dụng mạng thần kinh nhân tạo (đƣợcứng dụng rộng rãi trong kỹ thuật) và mô hìnhARIMA vào dự báo lạm phát tại Việt Nam. Đềđài cũng nhằm so sánh hiệu quả dự báo của mô hình ANN vàARIMA cũng nhƣ mô hình hỗn hợp nhằm tìm ra mô hình dự báo tốt nhất cho Việt Nam. Mô hình dự báo sẽ là một công cụ hỗ trợ cho các nhà hoạchđịnh chính sách trong việcổnđịnh kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát.
Đề tài cũng giúpích cho những doanh nghiệp và những nhà đầu từ riêng rẽ, giúp họ có đƣợc những công cụ hữuích hơn trong việc dự báo những biến số kinh tế trong tƣơng lai Bố cục đề tài Nội dung của đề tài bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Trình bày tóm tắt các nghiên cứu có liên quan, các lý thuyếtnền tảng cho việc nghiên cứu của đề tài.Đó là lý thuyết về lạm phát, lý thuyết về mạng thần kinh nhân tạo và lý thuyết về mô hìnhARIMA. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng phátđịnh lƣợng trong dự báo đƣợc sử dụng, mà tiêu tiểu là mô hình mạng thần kinh nhân tạo và mô hìnhARIMA. Chƣơng này cũng trình bày về Trang 2 Luan van cách vận hành của mạng thần kinh nhân tạo và cách thiết lập một mạng thần kinh phù hợp với yêu cầu đặt ra. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu về mô hình ANN vàARIMA sẽ đƣợc trình bày.
Đồng thời tác giả cũng so sánh hiệu quả dự báo của các mô hình thông qua các tiêu chỉ RMSE và MAE. Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị Các kết luận đƣợc rút ra và một số đề xuất của tác giả liên quan đến đề tài. Trang 3 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lạm phát “Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định” (Nguyễn Nhƣ Ý, 2007, trang 75). Lạm phát theo năm đƣợc tính theo công thức: 𝐶ℎỉ𝑠ố𝑔𝑖á𝑛ă𝑚𝑡 −𝐶ℎỉ𝑠ố𝑔𝑖á𝑛ă𝑚𝑡 −1 𝐿ạ𝑚𝑝ℎá𝑡 = 𝐶ℎỉ𝑠ố𝑔𝑖á𝑛ă𝑚𝑡 −1 Chỉ số giá thƣờng đƣợc dùng tính lạm phát là chỉ số giá tiêu dùng CPI.
Karl Marx nghiên cứu về chế độ bản vị vàng đã khẳng định: việc phát hành tiền giấy phải đƣợc giới hạn trong số lƣợng vàng nhất định đại diện tiền giấy. Nếu không đảm bảo điều này, một khi lƣợng tiền giấy vƣợt quá mức giới hạn này thì tiền giấy sẽ mất dần giấy trị làm gia tăng mức giá chung của tất cả các loại hàng hóa và tình trạng lạm phát xuất hiện. Theo đó, lạm phát, dƣới quan điềm của Karl Marx, đƣợc định nghĩa nhƣ sau: lạm phát là việc các kênh, các luồng lƣu thông tràn đầy những tờ giấy bạc dƣ thừa dẫn đến sự tăng vọt trong mức giá chung. Milton Friendman cũng từng phát biểu về lạm phát khi bàn về vấn đề lƣu thông tiền tề: lạm phát ở mọi lúc mọi nơi đều là hiện tƣợng của lƣu thông tiền tệ.
Lạm phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi nào số lƣợng tiền trong lƣu thông tăng nhanh hơn so với sản xuất. Tuy nhiên, John Keynes với thuyết cầu của mình cho rằng nguồn gốc sâu xa của lạm phát là sự biến động cung cầu. Khi cung đã vƣợt xa cầu thì sản xuất sẽ đình đốn, nền kinh tế bị suy giảm. Lúc đó, Nhà Nƣớc buộc phải tung ra các khoản chi tiêu, đầu tƣ công lớn, tăng cƣờng các chính sách tín dụng nhằm kéo mức cầu của cả nền kinh tế về cân bằng và vƣợt qua tổng cung.
Lúc này, lạm phát đã xuất hiện. Trong trƣờng hợp nền kinh tế phát triển hiệu quả, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ cấu kinh tế đƣợc đổi mới thành công; lạm phát này có tác dụng thúc đẩy sản xuất. Ngƣợc lại, lạm phát, theo Keynes, đã không còn là động lực phát triển của nền kinh tế. Trang 4 Luan van Nhìn chung, dƣới bất kỳ quan điểm nào lạm phát cũng đƣợc đặc trƣng bởi 3 điểm chính yếu sau: Sự gia tăng quá mức của lƣợng tiền trong lƣu thông.
Dẫn đến sự mất giá của đồng tiền. Từ đó, khiến cho giá cả các loại mặt hàng tăng cao.2 Các yếu tốt tác động đến lạm phát Trong cuốn “The general theory of employment, interest and momey” Keynes (1936)khẳng định: trong dài hạn lạm phát chịu tác động trực tiếp từ cung tiền, còn trong ngắn hạn lạm phát chịu tác động bởi tổng cung và tổng cầu. Có nhiều yếu tố tác động làm dịch chuyển tổng cung và tổng cầu. Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số yếu tố tác động đến tổng cung và tổng cầu từ đó tác động đến lạm phát.
Cung tiền Khi cung tiền tăng, ngƣời dân sẽ có nhiều tiền dƣ thừa hơn và do đó họ sẽ có nhu cầu tiêu thụ nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn, do đó đƣờng tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải từ đó làm cho mức giá chung tăng lên. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đều khẳng định cung tiền là yếu tố có tác động đến lạm phát, tiêu biểu là nghiên cứu của Sử Đình Thành (2012) vàPhạm Thị Thu Trang (2009). Các nghiên cứu này đều kết luận cung tiền cóảnh hƣởng tích cực đến lạm phát. Hình vẽ sau nói lên mối liên hệ giữa lạm phát và cung tiền theo năm của Việt Nam.
Hình 1: Mối liên hệ giữa lạm phát và cung tiền của Việt Nam Trang 5 Luan van Nguồn: Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Từ biểu đồ trên ta thấy, lạm phát và cung tiền có xu hƣớng biến đổi cùng nhau, đặc biệt là trong giai đoạn lạm phát cao trƣớc năm 1990. Mức độ thay đổi của cung tiền trung bình cao hơn lạm phát từ 10-20%. Lãi suất Cũng theo Keynes (1936), trong ngắn hạn lãi suất thay đổi để điều chỉnh cung và cầu về tiền tệ. Cung và cầu về tiền tệ sẽ tác động đến tiết kiệm và đầu tƣ, từ đó tác động đến tổng cầu và làm thay đổi mức giá chung của nên kinh tế.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài (2010), thì ngân hàng có thể vận dụng luật Taylor để ấn định một mức lãi suất mà ở đó nền kinh tế có thể đạt đƣợc sản lƣợng mục tiêu và lạm phát mục tiêu. Do đó, lãi suất là yếu tố có tác động đến mức giá chung của nền kinh tế. Tuy nhiên tại Việt Nam, ngân hàng trung ƣơng vẫn chƣa vận dụng nguyên tắc này mà chủ yếu là điều chỉnh lãi suất để đạt đƣợc mức lạm phát mục tiêu. Mức sản lƣợng mục tiêu có thể điểu chỉnh thông qua đầu tƣ.
Mùa vụ Lạm phát tại Việt Nam đƣợc thu thập theo tháng và theo năm. Lạm phát đƣợc thu thập theo tháng thƣờng mang tính mùa. Tại Việt Nam, giá cả vào những tháng Tết thƣờng cao hơn những tháng khác do nhu cầu mua sắm và đi lại tăng cao. Biểu đồ Trang 6 Luan van lạm phát theo tháng sau đây cho ta thấy tính mùa vụ của lạm phát.
Đỉnh của lạm phát thƣờng rơi vào tháng 1 và tháng 2 còn đáy thƣờng rơi vào tháng 3 trong năm. Hình 2: Lạm phát theo tháng của Việt Nam Nguồn: Tổng cục thống kê (GSO) Sau năm 2007, lạm phát có những diễn biến bất thƣờng do chịu ảnh hƣởng của suy thoái kinh tế thế giới cũng nhƣ sự gia tăng cung tiền quá mức của chính phủ. Tuy nhiên, lạm phát vẫn có xu hƣớng cao hơn vào những tháng Tết. Do khoản thời gian này không phản ảnh đƣợc tính mùa vụ rõ ràng nên tác giả không đƣa vào trong đồ thị này.
Giá dầu thế giới Xăng dầu luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất của các doanh nghiệp. Do đó, việc biến động giá xăng dầu sẽ dẫn đến chi phí sản xuất và dẫn đến biến động giá bán đầu ra. Theo nghiên cứu của Portes (2012) tại Trung Mỹ và Caribbe, thì giá xăng dầu không chỉ ảnh hƣởng đến lạm phát mà còn ảnh hƣởng đến một số biến số vĩ mô khác.