CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KĨ THUẬT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về mô hình dạy học 1. Sự phát triển mô hình dạy học trên thế giới a) Mô hình dạy học truyền thống Những nghiên cứu về MHDH có một lịch sử lâu dài gắn với quá trình phát triển của giáo dục thế giới.
Từ khi giáo dục chưa trở thành một khoa học độc lập, đã xuất hiện các mô hình dạy học gắn với hoạt động truyền bá hệ tư tưởng tôn giáo, chính trị. Kiểu MHDH này được gọi tên là MHDH truyền thống (Traditional Education Model), có đặc trưng cơ bản là truyền cho thế hệ tiếp theo những kỹ năng, sự kiện và tiêu chuẩn về hành vi đạo đức và xã hội mà người lớn coi là cần thiết cho sự thành công của thế hệ tiếp theo, là kiểu dạy học "bị áp đặt từ bên trên và từ bên ngoài", người học phải ngoan ngoãn tiếp nhận và tin vào người dạy và sách vở thông qua công cụ chính là giáo viên. Trong lịch sử, con đường cơ bản của dạy học truyền thống là đọc thuộc lòng đơn giản, dạy học theo cách tiếp cận điển hình, người học ngồi yên lặng tại chỗ và lắng nghe, ghi nhớ, thuật lại.H (2009) [86] đã chỉ ra rằng cách tiếp cận truyền thống nhấn mạnh rằng tất cả người học được dạy cùng một nội dung, trong cùng không gian, thời gian, những người học không học được sẽ thất bại. Cách tiếp cận này đã thống trị nền giáo dục thế giới trong thời gian dài.
Dạy học truyền thống gắn liền với các yếu tố ép buộc nhiều hơn. Về chương trình giảng dạy tập trung nhiều đến kiến thức học thuật lâu đời. Những đại diện tiêu biểu theo kiểu dạy học truyền thống ở phương Đông như Khổng Tử (551-479 TCN), Mạnh Tử (372-289 TCN), Tuân Tử (313-238 TCN) và ở phương Tây như: Homer (750-650 TCN), Sophocles (496-406 TCN), Plato (427-347 TCN), Josephus (100-37 TCN), Dante (1265-1321), Shakespeare (1564-1616),. Cho đến nay, có thể coi mô hình dạy học truyền thống đã hoàn thành sứ mệnh của mình.
Mặc dù không thể phủ nhận vai trò và những thành tựu của mô 10 hình dạy học truyền thống, nhưng nó đã đạt đến giới hạn cao nhất và cần được kế thừa, phát triển, đổi mới để phù hợp với sự phát triển của xã hội. b) Mô hình dạy học hiện đại Các mô hình dạy học hiện đại ra đời từ khi xuất hiện những tư tưởng giáo dục tiến bộ bắt đầu ở cuối thế kỷ XIX và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau cho đến nay. Thuật ngữ giáo dục tiến bộ (Progressive education) được sử dụng để phân biệt với các chương trình giảng dạy truyền thống của Âu - Mỹ vào thế kỷ 19. Nền giáo dục tiến bộ bắt nguồn từ kinh nghiệm hiện đại có những điểm chung là nhấn mạnh vào học bằng cách làm - các dự án thực hành, học tập nhanh, học tập trải nghiệm, chương trình học tích hợp, tập trung vào các đơn vị học tập theo chủ đề, tích hợp tinh thần kinh doanh trong giáo dục.
Đi đầu trào lưu giáo dục tiến bộ phải kể đến John Locke (1632- 1704) và Jean-Jacques Rousseau (1712 - 1778), những đại diện tiêu biểu khác theo trào lưu giáo dục tiến bộ như Johann Bernhard Basedow (1724-1790), Christian Gotthilf Salzmann (1744-1811), Johann Heinrich Pestalozzi (1746-1827), Friedrich Wilhelm August Fröbel (1782-1852), Johann Friedrich Herbart (1776-1841), John Melchior Bosco (1815-1888), Cecil Reddie (1858-1932), John Dewey (1859-1952), Maria Montessori (1870-1952) [88]; [163]; [209]. Nhìn chung giáo dục tiến bộ hướng hoạt động dạy học đến những yếu tố sau: (1) Nhấn mạnh vào giải quyết vấn đề và tư duy phản biện; (2) Làm việc nhóm và phát triển các kỹ năng xã hội; (3) Mục tiêu thể hiện ở khả năng hiểu kiến thức và thể hiện bằng hành động trong thực tiễn thay vì kiến thức thuần túy; (4) Học tập dựa vào sự hợp tác và dự án hợp tác; (5) Giáo dục trách nhiệm xã hội và dân chủ; (6) Đề cao học tập cá nhân hóa, đáp ứng mục tiêu học tập cá nhân; (7) Tích hợp các dịch vụ cộng đồng và các dự án học tập phục vụ cộng đồng vào chương trình giảng dạy hàng ngày; (8) Học tập nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân và xã hội trong tương lai; (9) Không chỉ tập trung vào giáo trình, sách giáo khoa, khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài liệu học tập; (10) Nhấn mạnh vào học tập suốt đời và các kỹ năng nền tảng; 11 (11) Đánh giá dựa vào sản phẩm và sự thực hiện. c) Một số nghiên cứu về mô hình dạy học hiện đại Những nghiên cứu về MHDH ra đời từ rất sớm, tuy nhiên chỉ đến khi Tâm lí học ra đời như một khoa học độc lập từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ 20. Cùng với đó là sự xuất hiện của các lí thuyết tâm lí hiện đại về học tập: thuyết Hành vi với các đại diện Pavlov (1897), Thorndike (1905), Watson (1913), Skinner (1936, 1971), Clark Hull’s (1943), B.
và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong những thập niên cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, đóng vai trò là những cơ sở lý thuyết quan trọng cho sự ra đời của các MHDH định hướng vào người học, đã tác động đến sự ra đời của nhiều mô hình giáo dục và dạy học hiện đại gồm [100]: - Kiểu mô hình xã hội (Social Models Family): Luận điểm cơ bản của kiểu mô hình xã hội coi dạy học thực chất là phát triển các mối quan hệ hợp tác trong lớp học, mục đích là xây dựng lên một cộng đồng học tập, phát triển văn hóa dạy học tích cực để có thể hỗ trợ việc học một cách mạnh mẽ nhất. Các MHDH theo nhóm này gồm.1: Các mô hình dạy học theo kiểu xã hội Kế thừa TT Mô hình Tác giả và phát triển Mô hình điều tra nhóm (Group John Dewey (1916) Shiomo Sharan; 1 Investigation Model) Herbert Thelen (1960) Bruce Joyce Mô hình hỏi đáp luật pháp Donal Oliver, James Shaver 2 (Jurisprudential Inquiry Model) (1966,1971,1995) 12 Kế thừa TT Mô hình Tác giả và phát triển Mô hình truy vấn theo cấu trúc 3 Robert Salvin (1980) Aronson (Structured Inquiry Model) 4 Mô hình đóng vai (Role Play Model) Fannie Shaftel (1982) Margarita Mô hình đối tác học tập (Parners in David Johnson và Roger 5 Calderon; Learning Model) Johnson (1990) Elizabeth Cohen - Kiểu mô hình xử lý thông tin (The Information Processing Models Family): Dựa trên lý thuyết nhận thức của các nhà tâm lý học người Mỹ gồm: George Armitage Miller (1920 - 2012); John William Atkinson & Richard Shiffrin (1968). Luận điểm cơ bản dựa trên ý tưởng cho rằng cá nhân chủ động xử lý thông tin họ nhận được thay vì chỉ phản ứng với các kích thích. Các MHDH theo kiểu xử lý thông tin tập trung vào hoạt động nhận thức của người học, Joyce & Weil (2014) đã nêu tám mô hình theo kiểu xử lý thông tin gồm.2: Các mô hình dạy học theo kiểu xử lý thông tin TT Mô hình Tác giả Kế thừa và phát triển Mô hình tư duy tổng hợp 1 Bill Gorden (1961) (Synetics Model) Mô hình đào tạo truy vấn (Inquiry 2 Rechard Suchman (1962) Howard Jones Training Model) Mô hình người tổ chức tiên phong 3 David Ausubel (1963) Lawton; Wanska (Advance Organizers Model) Mô hình truy vấn khoa học 4 Joseph Shwab (1965) (Scientific Inquiry Model) Mô hình tư duy quy nạp 5 Hida Taba (1966) Bruce Joyce (Inductive Thinking Model) Fred LightHall; Mô hình chiếm lĩnh khái niệm 6 Jerome Bruner (1967) Tennyson; cochiarella; (Concept Attainment Model) Bruce Joyce 13 TT Mô hình Tác giả Kế thừa và phát triển Mô hình ghi nhớ "hay còn gọi là Joel Levin; Rechard 7 hỗ trợ trí nhớ" (Mnemonics- Micheal Pressley (1982) Anderson Memory Assists Model) Piaget (1952); Sigel Mô hình thích ứng với người học Spaulding; Purpel và 8 (1969); Sullivan (1967); (Adjusting To The Student Model) Ryan Kohlberg (1976) - Kiểu mô hình cá nhân (Personal Models Family): Các MHDH thuộc kiểu cá nhân hay hướng vào cá nhân xuất phát từ luận điểm cho rằng mỗi người mang một tính cách độc đáo và mang đặc điểm riêng, cho nên dạy học là nỗ lực làm cho người học hiểu bản thân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và định hướng hành vi hoạt động của bản thân.
Do đó, trong dạy học mục tiêu phải được xác định trước, được công khai, có thể quan sát và đo được, các nhiệm vụ học tập và phương pháp tiến hành được xác định rõ ràng, các thông tin được phản hồi kịp thời, hành vi phải được củng cố liên tục. Các MHDH theo kiểu này gồm hai loại (Bảng 1. Sự ra đời của kiểu mô hình cá nhân là tiền đề quan trọng để phát triển các MHDH theo định hướng phát triển năng lực người học. Những luận điểm của kiểu mô hình dạy học hướng vào cá nhân đã kế thừa được kết quả nghiên cứu của Tâm lý học hiện đại về sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức của con người, kế thừa được thành quả của lý luận dạy học hiện đại về dạy học tích cực hóa người học, coi người học là trung tâm của quá trình dạy học, là chủ thể chính quyết định trực tiếp đến chất lượng và kết quả học tập.
Định hướng này đi đúng theo quan điểm của giáo dục tiến bộ và giáo dục định hướng phát triển năng lực người học.3: Các mô hình dạy học hướng vào cá nhân Kế thừa và TT Mô hình Tác giả phát triển Mô hình dạy học gián tiếp (Nondirective Carl Rogers 1 Teaching Model) (1962,1981) McKibbin và Joyce 2 Khái niệm về bản thân (Concepted of Self) (1980); Joyce, Hersh và McKibbin (1983) 14 - Kiểu mô hình dựa vào lý thuyết hành vi (The Behavioral Systems Family): Dựa trên các công trình nghiên cứu hành vi của B. Skinner, một số MHDH đã được phát triển và ứng dụng trong dạy các sự kiện, khái niệm và kỹ năng. Các kiểu MHDH này tập trung vào phát huy tối đa khả năng của người học, kiểm soát, điều chỉnh và biến đổi hành vi học tập nhằm đáp ứng các nhiệm vụ và các phản hồi trong học tập (Bảng 1.4: Các mô hình dạy học dựa vào lý thuyết hành vi Kế thừa và TT Mô hình Tác giả phát triển Kurt Lewin (1935,1936); John Học tập dựa vào trải nghiệm 1 Dewey (1938); Jean Piaget (1976); (Experiential Learning Model) David Kolb (1984) MHDH chương trình hóa 2 B.