Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng 11 Chương II: Khối u (Bướu tân sinh). Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn LQ cơ chế miễn dịch. Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa. Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi.
Chương VI: Bệnh của hệ thần kinh. Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ. Chương VIII: Bệnh tại và xương chũm. Chương IX: Bệnh của hệ tuần hoàn.
Chương X: Bệnh hệ hô hấp. Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa. Chương XII: Bệnh da và mô dưới da. Chương XIII: Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết.
Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh học. Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ. Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh. Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể.
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác. Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài. Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong. Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và tiếp xúc dịch vụ y tế.
Bộ mã ICD-10 gồm 4 ký tự: - Ký tự thứ nhất (Chữ cái): Mã hóa chương bệnh - Ký tự thứ hai (Số thứ nhất): Mã hóa nhóm bệnh - Ký tự thứ ba (Số thứ hai): Mã hóa tên bệnh 12 - Ký tự thứ tư (Số thứ ba): Mã hoá một bệnh chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc thù của nó [9]. Cách phân loại này đơn giản, dễ áp dụng để thống nhất dữ liệu hoặc thông tin, bảo đảm liên thông phần mềm giữa cơ sở khám, chữa bệnh với cơ quan bảo hiểm xã hội và các đơn vị liên quan. Phân loại bệnh tật theo Y học cổ truyền Lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa: Âm dương, Ngũ hành. Âm dương cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh.
Bên cạnh âm dương, ngũ hành, cơ sở lý luận Đông y còn bao gồm: học thuyết Thiên Nhân hợp nhất, học thuyết kinh lạc, bát cương, học thuyết tạng tượng. Y học cổ truyền không phân chia bệnh tật thành từng bệnh riêng rẽ mà qua tứ chẩn, bát cương quy nạp các triệu chứng thành các chứng hay hội chứng bệnh Phạm vi của bệnh nội khoa YHCT rộng nhưng dựa trên lý luận cơ bản có thể chia làm 2 nhóm lớn: Nhóm ngoại cảm thời bệnh: Lấy học thuyết thương hàn và học thuyết ôn bệnh làm chỗ dựa về lý luận. Do đó, chủ yếu lấy bệnh chứng của lục kinh và vệ, khí, dinh, huyết để tiến hành biện chứng – luận trị trong quá trình trị liệu. Nhóm ngoại cảm thời bệnh khi liên hệ với y học hiện đại chủ yếu là những bệnh trong phạm vi bệnh truyền nhiễm.
Nhóm nội khoa tạp bệnh: lấy Kim quỹ yếu lược làm chỗ dựa về lý luận. Bệnh chứng chủ yếu lấy cơ sở tạng phủ để xác định biện chứng luận trị. Nhóm nội khoa tạp bệnh khi liên hệ với y học hiện đại chủ yếu là những bệnh nội khoa [26]. Bộ y tế đã ban hành Quyết định số 7603/QĐ-BYT (25/12/2018) về danh mục dung chung áp dụng trong quản lý khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế [9].
Một số chứng bệnh theo YHCT liên hệ với YHHĐ và ICD-10 Tên chứng/ Bệnh Mã ICD Viêm khớp dạng thấp huyết thanh M05 dương tính Chứng tý Viêm khớp dạng thấp khác M06 Bệnh viêm cột sống cứng khớp M45 Các viêm khớp khác M13 Thoái hóa đa khớp M15 Chứng tý, bế cốt tý Thoái hóa khớp háng M16 Thoái hóa khớp khác M19 Hạc tất phong Thoái hóa khớp gối M17 Thủ cốt chứng Thoái hóa khớp cổ– bàn ngón tay M18 Thống phong Gout M10 Hồng ban thảo sang, hồng hồ điệp sang, hồng Lupus ban đỏ hệ thống M32 ban lang sang Bì tê, thư bệnh Xơ cứng bì toàn thể M34 Bệnh gân - Dây chằng ở chi dưới, không M76 Cân tý kể bàn chân Các bệnh gân - dây chằng khác M77 14 Yêu thống Đau lưng M54 Loãng xương có kèm gẫy xương Cốt chiết M80 bệnh lý Loãng xương không kèm gẫy xương Cốt tý, cốt nuy M81 bệnh lý Lỵ tật, trường tịch Bệnh Amip A06 Bệnh đái tháo đường phụ thuộc E10 insulin Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc E11 insulin Tiêu khát Bệnh đái tháo đường liên quan đến suy E12 dinh dưỡng Bệnh đái tháo đường xác định khác E13 Các thể đái tháo đường không xác E14 định Rối loạn giấc ngủ không do nguyên Thất miên F51 nhân thực thể Khẩu nhãn oa tà Bệnh dây thần kinh mặt (VII) G51 Liệt mềm nửa người G81.0 Liệt mềm hai chi dưới G82.0 Chứng nuy, nuy chứng Liệt mềm tứ chi G82.3 Hội chứng liệt khác G83 Bán thân bất toại Liệt nửa người G81 15 CƠ CẤU BỆNH TẬT TẠI CÁC BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN 1. Hệ thống khám chữa bệnh y học cổ truyền Việt Nam có một hệ thống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền từ Trung ương đến địa phương, bao gồm cả hệ thống y tế nhà nước và tư nhân. Trong đó, hệ thống y tế nhà nước có mối tương quan và tác động qua lại lẫn nhau thể hiện qua sơ đồ sau: Hình 1. Hệ thống khám chữa bệnh y học cổ truyền nhà nước Song song tồn tại cùng với hệ thống y tế nhà nước về YHCT, Việt Nam còn có một hệ thống các Tổ chức Hội nghề nghiệp chuyên môn và các cơ sở hành nghề YHCT tư nhân: Bệnh viện YHCT tư nhân, phòng chẩn trị YHCT, các cơ sở kinh doanh, sản xuất thuốc YHCT, các cơ sở cung cấp dịch vụ YHCT bằng các phương pháp không dùng thuốc, các ông lang, bà mế, người hành nghề bằng bài thuốc gia truyền.
Nghiên cứu về cơ cấu bệnh tật tại các bệnh viện y học cổ truyền a. Phạm Hoàng Giang (2020) nghiên cứu “Mô hình bệnh tật bệnh nhân điều trị nội trú và thực trạng nguồn lực tại Bệnh viện y học cổ truyền Hà Đông” - Tỷ lệ mắc bệnh của bệnh nhân nội trú có sự khác biệt giữa nam và nữ, tỷ lệ mắc bệnh của bệnh nhân nữ cao hơn bệnh nhân nam (61,14% nữ, 38,86% nam). - Phân bố tỷ lệ mắc 10 bệnh cao nhất của bệnh nhân nội trú theo thứ tự sau giảm dần như sau: Tổn thương dây thần kinh hông to 19,25%, Thoái hóa cột sống 14,76%, Sốt xuất huyết 6,21%, Thoái hóa khớp gối 5,85 %, Rối loạn chức năng tiền đình 5,62%, Hội chứng cánh tay cổ 3,4%, Đau vùng cổ gáy 3,33%, Liệt nửa người 3,13%, Cơn thiếu máu não cục bộ 3%, Bệnh tăng huyết áp vô căn 2,73%. - Có sự khác nhau về tình hình mắc bệnh giữa các nhóm tuổi: Tỷ lệ mắc bệnh của nhóm tuổi từ 50-69 tuổi (50%) và ≥70 tuổi (30,6%) chiếm đa số.
Nhóm tuổi ≤ 4 và 5-14 chiểm tỷ lệ rất thấp trong điều trị nội trú. - Hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện: Số lượt khám bệnh nội trú năm 2019 là 67.937 lượt; Thuốc YHCT sử dụng theo danh mục của Bộ y tế ban hành, số lượng và chủng loại đủ cho nhu cầu điều trị; Phương pháp không dùng thuốc được bệnh viện sử dụng nhiều: Điện châm, cấy chỉ và xoa bóp bấm huyệt, vật lý trị liệu… [10]. Nhan Hồng Tâm (2016) nghiên cứu “Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh năm 2015” - Hơn 90% bệnh thuộc các loại bệnh sau: cơ xương khớp và mô liên kết, hệ tuần hoàn và hệ thần kinh. - Mười bệnh có tỷ lệ cao nhất theo thứ tự là: di chứng bệnh mạch máu não, bệnh thoái hóa cột sống, các bệnh đĩa đệm gian đốt sống khác, thoái hóa đa khớp, trĩ, bệnh dây thần kinh mặt, đau lưng, nhồi máu não, tăng huyết áp nguyên phát, thoái hóa khớp gối.
17 - Mười chứng YHCT có tỷ lệ cao nhất theo thứ tự là: chứng tý, bán thân bất toại, tọa cốt phong, thấp nhiệt, yêu thống, khẩu nhãn oa tà, chứng nuy, thống, huyễn vựng, ma mộc. - Có 96,84% bệnh nhân được điều trị kết hợp thuốc YHHĐ cả YHCT. Trung bình tổng số thuốc một bệnh nhân được dùng là 7 thuốc. Trung bình một bệnh nhân được chỉ định 3 phương pháp không dùng thuốc.
Châm cứu 85,08%; vật lý trị liệu 77,58%; xoa bóp bấm huyệt 9,7%; tập dưỡng sinh 0%. - Tỷ lệ mắc các bệnh mạch máu não, thoái hóa khớp, tăng huyết áp tăng dần theo tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh trĩ, dây thần kinh mặt giảm dần theo tuổi. - Bệnh nhân mắc các bệnh mạch máu não, thoái hóa khớp có số bệnh đi kèm nhiều hơn các nhóm khác.
Bệnh nhân mắc bệnh trĩ, dây thần kinh mặt thường độc lập. - Bệnh nhân mắc các bệnh mạch máu não, thoái hóa khớp nằm viện nhiều ngày hơn các nhóm khác. - Bệnh nhân mắc các bệnh mạch máu não, cột sống, trĩ, tăng huyết áp dùng nhiều thuốc hơn các nhóm khác. - Bệnh nhân mắc các bệnh mạch máu não, cột sống, thoái hóa khớp được chỉ định nhiều phương pháp không dùng thuốc hơn các nhóm khác [11].
Phạm Hồng Vân (2016) “Nghiên cứu đặc điểm mô hình bệnh tật nhi khoa tại bệnh viện Châm cứu Trung ương 5 năm (2010-2014)” - Có 15.105 bệnh nhi điều trị tại khoa Nhi trong tổng số 44.788 bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Châm cứu Trung ương 5 năm (2010-2015) chiếm tỷ lệ 33,73%. - Mô hình bệnh tật: bại não chiếm tỷ lệ cao nhất 66,53%; tự kỉ chiếm 7,36%; di chứng viêm não chiếm 12,09%. Tỷ lệ bệnh nhi mắc tự kỉ và bại não đến điều trị tại bệnh viện tăng dần theo năm, và ngược lại, tỷ lệ bệnh nhi mắc di chứng viêm não giảm dần theo từng năm [12]. Phạm Thị Kim Dung và cộng sự (2016) nghiên cứu “Tình hình bệnh nhi điều trị nội trú tại khoa Nội-Nhi bệnh viện YHCT trung ương từ năm 2010- 2014” - Khảo sát trong 5 năm trẻ trai vào viện cao hơn trẻ gái, nhóm tuổi vào viện nhiều nhất là < 2 tuổi (chiếm 43,14%).
- Số lượt bệnh nhi điều trị nội trú tăng gấp 4 lần, từ 74 trẻ năm 2010 lên 269 trẻ năm 2014, với chủ yếu là bệnh nhi bảo hiểm tuyến 2 (71,57%). Bốn bệnh hay gặp nhất trong khoa theo thứ tự là di chứng viêm não, bại não, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, liệt VII ngoại biên. Tương ứng với các chứng trạng YHCT là: di chứng ôn bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất 51,47%; sau đó là chứng ngũ trì, ngũ nhuyễn (9,14%); các chứng thuộc tạng phế, kinh phế (5,51%) [13].