ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa đã trở thành một tất yếu khách quan khiến cho áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết. Đặc biệt với Hiệp định Thương mại Tự do Châu Âu-Việt Nam (European-Vietnam Free Trade Agreement-EVFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 đã mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp trong mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (European Union-EU). Cụ thể, EVFTA sẽ tiến tới xóa bỏ thuế quan đối với 99% tất cả hàng hóa giữa EU và Việt Nam và việc kinh doanh tại Việt Nam cũng sẽ trở nên dễ dàng hơn đối với các công ty của Châu Âu. Bên cạnh đó, để bảo vệ các doanh nghiệp nội địa, nhiều quốc gia trên thế giới chuyển qua sử dụng các biện pháp phi thuế quan thay cho các biện pháp thuế quan như trước.
Cụ thể đề ra nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật, nhiều biện pháp phòng vệ thương mại, biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp và đòi hỏi nhiều về chứng nhận đạt tiêu chuẩn về môi trường và lao động. Từ đó cho thấy vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp là phải gia tăng thực hiện và minh bạch thông tin trách nhiệm xã hội để đáp ứng đòi hỏi của bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững cho các doanh nghiệp trong tương lai. Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (Corporate social responsibility-CSR) đã xuất hiện từ lâu trong lý thuyết Quản trị và Kế toán cách đây khoảng 45 năm trước (Wood, 2010). Hiển nhiên bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn tập trung mọi nguồn lực cho mục tiêu kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận cho mình.
Do đó các doanh nghiệp dường như không mong muốn và cũng không tự giác thực hiện CSR vì làm tăng chi phí của doanh nghiệp. Tuy nhiên về lâu về dài, doanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển bền vững nếu như doanh nghiệp chỉ tập trung gia tăng lợi ích của mình, bỏ qua lợi ích của các đối tượng liên quan khác. Khi doanh nghiệp nhận được nhiều lợi ích mang lại từ thực hiện và minh bạch CSR, họ sẽ sẳn sàng thực hiện một cách tự giác và nhiệt tình. Tuy nhiên liệu việc thực hiện và minh bạch CSR có thực sự mang lại lợi ích hay chỉ là những hoạt động gây tốn kém chi phí???.
Để làm sáng tỏ vấn đề này, nhiều nghiên cứu về CSR đã được thực hiện khắp nơi trên thế giới. Cụ thể, Bowen (1953) cho rằng khi công ty có được lợi nhuận từ việc sản xuất và kinh doanh trên thị trường thì họ cũng phải có nghĩa vụ bù đắp lại những tổn thất mà công ty đã gây ra cho xã hội. Bên cạnh đó, thực hiện và minh bạch CSR trong dài hạn còn góp phần gia tăng danh tiếng và uy tín thương hiệu của doanh nghiệp, từ đó tăng khả năng cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Weber, 2008). Ngoài ra, O’Rourke (2004) cũng lập luận rằng bản báo cáo CSR cũng được xem như một kênh giao tiếp thông tin hiệu quả nhất giữa doanh nghiệp và các bên liên quan, 1 gia tăng sự hấp dẫn của cổ phiếu đối với các nhà đầu tư tiềm năng.
Thực hiện và minh bạch CSR tốt cũng có thể ảnh hưởng tích cực đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng (Brown & Dacin, 1997; BeckerOlsen et al., 2006) vì người tiêu dùng có xu hướng ủng hộ các hành vi có trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Knowles & Hill, 2001; Hopkins, 2003). Thậm chí, William (2005) còn cho thấy khách hàng sẽ sẵn sàng trả thêm nhiều tiền hơn để mua hững sản phẩm/dịch vụ được cung cấp bởi các doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, với uy tín và danh tiếng do thành tích thực hiện CSR mang lại, các doanh nghiệp cũng sẽ dễ dàng thu hút và giữ chân nhân viên giỏi (Gatewood et al., 1993; Turban & Grenning, 2000) và làm tăng giá trị cho cổ đông (Roberts, 1992). Tương tự, Haniffa & Cooke (2005) và Dhaliwal et al.
(2011) cũng khẳng định khi công ty tích cực thực hiện và minh bạch CSR đầy đủ đối với môi trường và xã hội cũng làm tăng danh tiếng và uy tín cho công ty, xây dựng được lòng tin, từ đó nhận được nhiều sự ủng hộ từ các bên liên quan, dễ dàng tiếp cận được các khoản tín dụng ưu đãi của nhà cung cấp tín dụng với chi phi thấp nên sẽ giảm được rủi ro trong kinh doanh. Vì các tổ chức tín dụng thường cho vay với mức lãi suất cao hay thấp phụ thuộc vào rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các rủi ro do bị xử lý bởi chính quyền hoặc sự tẩy chay của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp do hành vi vi phạm CSR của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu doanh nghiệp tự nguyện thực hiện và minh bạch CSR hướng đến các bên liên quan đầy đủ thì các chủ nợ sẽ xem đây như là một cơ chế tự điều chỉnh làm giảm rủi ro phát sinh chi phí có thể ảnh hưởng đến luồng tiền của doanh nghiệp trong tương lai. Khi đó, rủi ro của doanh nghiệp sẽ được chủ nợ đánh giá là thấp nên lãi suất cho vay cũng được ấn định thấp.
Bên cạnh đó, báo cáo thông tin CSR còn được các nhà đầu tư có trách nhiệm dung làm tài liệu tham khảo trong các quyết định đầu tư của mình (Laufer, 2003). Hơn thế, Moon & Vogel (2009) cho rằng báo cáo minh bạch CSR còn cung cấp nhiều thông tin hữu ích giúp các cơ quan quản lý ban hành các quyết định, các chính sách quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp kịp thời và phù hợp. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đã tìm thấy sự ảnh hưởng của minh bạch CSR đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên vẫn chưa có kết luận nhất quán giữa các kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Cụ thể, một số nghiên cứu tìm thấy mối tương quan dương giữa việc thực hiện minh bạch CSR đến hiệu quả tài chính (Tsoutsoura, 2004; Uwuigbe & Egbide, 2012; Waworuntu et al., 2014; Chou et al., 2017; Harjoto & Laksmana, 2018; Wang et al. Ngược lại, một số kết quả nghiên cứu khác chỉ ra rằng sự minh bạch CSR ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả tài chính vì làm tăng chi phí cho doanh nghiệp (Brammer et al., 2006; Lioui & Sharma, 2012; Chen et al., 2018; Nguyen, 2018; Lin et al. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu còn lại không tìm thấy sự tương quan giữa minh bạch CSR và hiệu quả tài chính doanh nghiệp (Nelling & Webb, 2009; Yaparto et al., 2013; Lim, 2017; Fathony et al. Sự khác nhau về kết luận giữa các nghiên cứu có thể do nhiều nguyên nhân như có thể do lỗi mô hình, thông số sai lệch hoặc dữ liệu hạn chế (Elsayed & Paton, 2005).
2 Ngoài ra các nghiên cứu đã được thực hiện ở thời điểm và bối cảnh thị trường khác nhau nên cũng có thể phần nào ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu trong khi việc thực hiện và minh bạch CSR không phải là các hoạt động có tính chất bắt buộc. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của minh bạch CSR đến hiệu quả tài chính có khả năng còn chịu sự điều tiết bởi các nhân tố khác chưa được xét đến. Vì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cao không phải đơn giản chỉ do thực hiện và minh bạch CSR tốt mang lại mà còn do nhiều yếu tố ảnh hưởng khác như năng lực quản trị và đặc điểm kiểm soát quản trị (KSQT) của công ty (KSQT đề cập đến các đặc điểm, thành phần và cấu trúc HĐQT; mối quan hệ giữa Ban điều hành, HĐQT và các bên liên quan và đặc điểm cấu trúc sở hữu). Thực tế cho thấy các doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều áp lực từ các bên liên quan và chính phủ về vấn đề CSR nên cần thiết công ty cần phải có vai trò điều hành đúng đắn của Ban lãnh đạo và HĐQT trong các quyết định thực hiện và minh bạch CSR đầy đủ và hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của minh bạch CSR và KSQT đối với hiệu quả tài chính chỉ được xem xét một cách riêng lẻ bởi các nghiên cứu trước. Hiện chỉ có một số ít nghiên cứu có xem xét sự ảnh hưởng tương tác cùng lúc của cả hai nhân tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, Lu (2013) đã chỉ ra sự ảnh hưởng điều tiết tích cực của KSQT đến mối quan hệ giữa sự minh bạch CSR và hiệu quả tài chính công ty. Cụ thể quy mô HĐQT, mức độ độc lập của HĐQT, sự kiêm chức của CEO và mức độ hiện diện của nữ lãnh đạo trong HĐQT điều tiết tích cực đến mối quan hệ giữa sự minh bạch CSR và hiệu quả tài chính công ty.
Nói cách khác hiệu quả tài chính của những công ty có đông thành viên HĐQT, có tỷ lệ thành viên HĐQT độc lâp cao, có CEO kiêm chức chủ tịch và có nhiều nữ lãnh đạo trong HĐT sẽ tăng mạnh hơn nhưng công ty khác khi tăng cường minh bạch CSR. Tuy nhiên Rossi et al. (2021) lại cho thấy việc CEO kiêm chức chủ tịch HĐQT lại điều tiết không tốt đến mối quan hệ giữa sự minh bạch CSR và hiệu quả tài chính. Cụ thể, hiệu quả tài chính của những công ty có CEO kiêm chức chủ tịch HĐQT sẽ bị giảm hoặc có mức tăng không bằng các công ty khác khi thực hiện và minh bạch CSR.
Tương tự, cả hai nghiên cứu Ishtiaq et al. (2017) và Javeed & Lefen (2019) đều cho rằng hiệu quả tài chính của công ty có sự tập trung sở hữu cao sẽ tăng mạnh hơn so với các công ty khác khi minh bạch CSR. Tuy nhiên, Feng et al. (2018) và Harmer et al.
(2021) lại cho rằng mức tăng hiệu quả tài chính của những công ty có sở hữu phân tán cao hơn so với công ty có sở hữu tập trung khi thực hiện minh bạch CSR. Từ đó cho thấy vai trò điều tiết của các đặc điểm KSQT lên mối quan hệ giữa sự minh bạch CSR và hiệu quả tài chính cũng chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu. Gần đây, nhiều doanh nghiệp đã có sự quan tâm nghiêm túc đến việc thực hiện và minh bạch CSR nhằm gia tăng sự hài lòng cho các bên liên quan (Adams & Frost, 2006; Gulyás, 2009). Việc thực hiện và công bố thông tin CSR đã được các doanh nghiệp thực hiện từ lâu tại các quốc gia phát triển, đặc biệt là Mỹ và Châu Âu.