Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Việc nghiên cứu về nguyên nhân mất rừng (Deforestation) và suy thoái rừng (Forest degradation) đã được quan tâm rất nhiều bởi các cá nhân, tổ chức khác nhau trên thế giới. Tiêu biểu là các nghiên cứu về nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng tại một số châu lục. Sau khi tổng hợp và phân tích nguyên nhân mất rừng tại Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á, nhiều tác giả cho rằng sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân chính gây ra mất rừng.
Tuy nhiên, ở mỗi địa điểm khác nhau, các kiểu sản xuất nông nghiệp khác nhau đóng vai trò khác nhau trong việc gây ra mất rừng. Nông nghiệp hàng hóa đóng vai trò là nguyên nhân quan trọng nhất ở Mỹ Latinh (68%), trong khi đó, ở Châu Phi và Châu Á, nó chiếm chỉ khoảng 35% tỷ lệ mất rừng. Nông nghiệp tự cấp tự túc chiếm mức độ ảnh hưởng tương đối giống nhau giữa các châu lục (27 - 40%). Tỷ lệ này có thể giải thích do sự chuyển đổi sang đất nông nghiệp đang ngày càng gia tăng ở cả các quốc gia nhiệt đới và á nhiệt đới.
Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp ở chiếm khoảng 80% nguyên nhân dẫn đến quá trình mất rừng trên toàn thế giới - được mô tả bằng phương trình đường thẳng trong khoảng những năm 1980 đến 1990 (theo Geist và Lambin (2002)). Khai khoáng là nguyên nhân có mức độ ảnh hưởng ở Châu Phi và Châu Á lớn hơn so với ở Châu Mỹ La tinh. Quá trình đô thị hóa là nguyên nhân quan trọng nhất ở Châu Á. De Fries và đồng nghiệp (2010) nhận định rằng sự gia tăng dân số do đô thị hóa ở các nước nhiệt đới có mối quan hệ mật thiết với sự gia tăng áp lực lên các cánh rừng nhiệt đới.
Sự khai thác và tận thu gỗ chiếm khoảng hơn 70% nguyên nhân gây suy suy thoái rừng ở Mỹ La tinh và Châu Á. Khai thác củi và sản xuất than là 4 nguyên nhân chính gây ra suy thoái rừng ở Châu Phi, và là nguyên nhân gây tác động ở mức độnhỏ đến trung bình ở Châu Á và Mỹ La tinh. Cháy không kiểm soát cũng là nguyên nhân dễ thấy nhất ở Châu Mỹ La tinh [24]. Việc tìm ra tỷ lệ mất rừng và nguyên nhân mất rừng rất quan trọng trong việc giảm thiểu các hoạt động phá rừng, từ đó là cơ hội giảm thải khí nhà kính vào khí quyển.
Theo thống kê năm 2009 tại Indonesia, tỉ lệ phá rừng là 2 triệu hecta mỗi năm, bằng khoảng 1/3 tổng số phá rừng trên thế giới, tương đương với lượng 2 tỉ tấn carbon thải vào khí quyển. Theo những nhà giao dịch tín dụng trên thị trường carbon thì Indonesia có thể có khả năng giảm phá rừng rất nhiều so với hiện nay mà không gây ảnh hưởng vào tốc độ phát triển kinh tế và tiết kiệm được từ 1 đến 1,5 tỉ tấn carbon [21]. Việc quản lý yếu kém tài nguyên rừng gây ra những hậu quả nghiêm trọng tại nhiều nước trên thế giới. Tác giả Nguyễn Đức Hiệp (2009) cho rằng sự suy thoái rừng là do quản lý không đúng và yếu kém các rừng được dùng trong sản xuất lấy gỗ.
Trên thế giới có khoảng 350 triệu hecta rừng ẩm nhiệt đới được dùng để khai thác gỗ. Khoảng 25% các rừng này là do cộng đồng làng xã địa phương hay các dân tộc bản địa quản lý coi sóc. Trong các rừng sản xuất, chỉ có một số loại cây được dùng để lấy gỗ do thị trường cần. Tuy nhiên, việc chặt hạ nhầm cây bài chặt và làm đổ, gây thiệt hại các cây rừng xung quanh do trình độ yếu kém của công nhân và thiếu bản đồ thiết kế khai thác vẫn xảy ra phổ biến.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nếu hoạch định hành trình khai thác gỗ thích hợp lý và công nhân được huấn luyện chặt cây ngã đúng hướng thì sẽ tránh khỏi 50% hay hơn nữa sự thiệt hại các cây rừng khác. Cũng theo tác giả này, trong các khảo cứu lâu dài và trên bình diện lớn ở Malayxia, trong các rừng khai thác gỗ không được hoạch định và hướng dẫn tốt 5 thì mỗi hecta mất đi hơn 100 tấn carbon hấp thụ. Sau hơn 30 năm, thời gian có thể trở lại rừng để khai thác lại gỗ ở cùng địa điểm khi rừng phục hồi, thì số lượng carbon tồn trữ ở khu rừng được quản lý khai thác tốt có ít nhất là 30 tấn/hecta cao hơn số lượng carbon ở khu rừng khác. Quản lý đúng trong khai thác rừng nhiệt đới hiện nay sẽ giúp chúng ta giữ lại ít nhất 0,16 giga tấn carbon mỗi năm.
Đây là số lượng carbon rất lớn [21]. Theo tổ chức CIFOR, ở nhiều quốc gia, con người phá rừng nhiệt đới để chuyển sang đất canh tác cây nông nghiệp, cây công nghiệp va sử dụng cho mục đích khác. Điều này xảy ra do nhiều nguyên nhân: thiếu quy hoạch sử dụng đất bền vững, phát triển nông nghiệp, những thay đổi trong quyền sử dụng đất đai, thiếu sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính, luật thuế chưa phù hợp, các chương trình tái định cư, xây dựng đường xá, khai thác khoáng sản bừa bãi, xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi ít chú ý đến bảo vệ môi trường, sức ép dân số, tham nhũng. Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến tài nguyên rừng ở mức độ khác nhau giữa các quốc gia.
Chính sách kinh tế vĩ mô, khủng hoảng kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, tình hình chính trị tại từng nơi, văn hóa bản địa…tất cả đóng vai trò quyết định dẫn đến tỷ lệ mất rừng ở mỗi quốc gia. Ở các nước Đông Nam Á, lợi nhuận thu được từ khai thác gỗ hợp pháp và bất hợp pháp là nguyên nhân mất rừng quan trọng nhất. Tỷ lệ mất rừng liên quan trực tiếp với giá cả các nông sản thương mại như cà phê và dầu cọ. Ở châu Mỹ La tinh, phần lớn diện tích rừng bị mất đi được chuyển đổi sang đồng cỏ chăn nuôi gia súc để đáp ứng nhu cầu về thịt và sữa.
Tại các nước Nam Á và Trung Phi, phần lớn diện tích rừng mất đi được chuyển sang trồng cây lương thực, thực phẩm. Để hạn chế mất rừng, CIFOR cũng đưa ra nhiều giải pháp. Khi rừng bị xâm hại bởi những đối tượng như người khai thác hoặc các nhà máy lớn thì 6 rất cần đến sự tham gia trực tiếp của người dân bản địa trong việc quản lý rừng nơi họ sống. Giải pháp này mang lại hiệu quả cao trong bảo vệ rừng.
Chiến lược khác là hạn chế những chính sách quốc gia hay vùng miền nhằm mở rộng các loại hình sử dụng đất khác, như mở đường, chương trình tái định cư và trợ cấp xăng, chất đốt. Những đối tượng khai thác tài nguyên rừng cũng cần chủ động giảm tác động xấu đến tài nguyên rừng. Họ cần được khuyến khích hạn chế khai thác trắng và sử dụng các kỹ thuật khai thác tác động thấp để đảm bảo duy trì chất lượng rừng cũng như thu nhập lâu dài từ rừng. Vì người dân bản địa là nhân tố quan trọng đằng sau những chuyển biến tích cực của rừng nên các chiến lược cần tập trung giúp họ có được thu nhập cao và bền vững hơn từ rừng.
Bao gồm chi trả trực tiếp cho các nỗ lực bảo tồn rừng. Mặc dù có nhiều nỗ lực vận động người dân và các chính phủ ra những quyết định loại hình sử dụng đất một cách thích hợp, nhiều cánh rừng nhiệt đới vẫn tiếp tục biến mất. Tuy nhiên, mức độ và quy mô của quá trình mất rừng đã được kiểm soát hơn những năm gần đây [26]. Ngày 5/10/ 2010, Liên hợp quốc (LHQ) đã công bố nghiên cứu “Đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu” trên 233 nước và khu vực trên thế giới nhằm cảnh báo đa dạng sinh học rừng đang bị lâm nguy trên phạm vi toàn cầu do tốc độ mất rừng, suy thoái rừng và diện tích rừng nguyên sinh giảm quá nhanh trên thế giới.
Trong thời gian từ năm 2000-2010, mỗi năm diện tích rừng bị chuyển đổi thành diện tích đất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác, hoặc bị mất do các nguyên nhân tự nhiên đã giảm từ 16 triệu hécta trong những năm 90 của thế kỷ trước xuống còn 13 triệu hécta. Diện tích rừng nguyên sinh toàn cầu với các hệ sinh thái đa dạng và phong phú nhất về các loài sinh vật, với khoảng 1,4 tỷ hécta, chiếm 36% tổng diện tích rừng toàn cầu, cũng giảm trung bình hàng năm 7 hơn 40 triệu hécta, với tốc độ 0,4% mỗi năm. Khu vực Nam Mỹ bị mất rừng nguyên sinh lớn nhất, sau đó là châu Phi và châu Á. Nghiên cứu trên chỉ rõ các mối đe doạ khác đối với đa dạng sinh học rừng là do việc quản lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm hoạ tự nhiên, dịch bệnh, do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực.
LHQ còn cảnh báo hiện trạng săn bắn vì mục tiêu thương mại do nhu cầu tiêu dùng ở các thành phố cũng đang đẩy nhiều loài vật hoang dã tới nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai. Tình trạng này sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu các nước không thực hiện những biện pháp hiệu quả để ngăn chặn [22]. Theo Gabrielle KissinGer, Martin Herold, Veronique de sy (2012), nguyên nhân trực tiếp được nhắc tới trong báo cáo bao gồm nguyên nhân dẫn đến mất rừng và nguyên nhân dẫn đến suy thoái rừng. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa và sản xuất nông nghiệp sinh nhai, khai khoáng, phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa là nguyên nhân trực tiếp gây mất rừng.
Những hoạt động như khai thác gỗ, cháy không kiểm soát, chăn thả gia súc trong rừng, và khai thác củi và sản xuất than củi là những nguyên nhân gây suy thoái rừng (Hosonuma et al. Những đánh giá về nguyên nhân gây mất rừng (Hình 1.1a) và suy thoái rừng (Hình 1.c) tầm quốc gia đã được đưa ra, nghiên cứu trên 3 châu lục, bao gồm châu Phi, châu Mỹ La Tinh và vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Á. 8 châu Phi châu Cận châu Phi châu Cận châu Phi châu Cận Mỹ La nhiệt Mỹ La nhiệt Mỹ La nhiệt tinh châu Á tinh châu Á tinh châu Á a. Tỷ lệ phần trăm mức độ b.
Tỷ lệ tính theo diện tích thể c. Tỷ lệ mức độ quan trọng quan trọng của các nguyên hiện mức độ quan trọng của các của các nguyên nhân gây suy nhân mất rừng. nguyên nhân mất rừng.