Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về báo chí và giới tính khi sinh trong cơ cấu dân số Chương 2: Thực trạng truyền thông về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông trên báo in về vấn đề kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG BÁO CHÍ VÀ GIỚI TÍNH KHI SINH 1. Báo chí và chức năng của báo chí 1. Các khái niệm Báo chí Báo chí hiện đại có thể được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ (hoặc không định kỳ như báo mạng điện tử), được sản xuất với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo công chúng.
Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng cũng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, báo phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử. Truyền thông đại chúng (TTĐC), nhìn từ phương tiện chuyển tải thông điệp, là hệ thống các kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội để thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm…, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra. Như vậy TTĐC bao gồm báo chí và các kênh truyền thông khác như sách, điện ảnh, các phương tiện nghe – nhìn, pano – áp phích… Cũng là những kênh TTĐC, nhưng do tính chất và đặc trưng vốn có của mình, báo chí chiếm vị trí trung tâm, nền tảng và có vai trò chi phối, quyết định khuynh hướng, sức mạnh TTĐC nói chung. Do đó, trong nhiều trường hợp, người ta dùng khái niệm báo chí để chỉ các phương tiện TTĐC, và ngược lại, khi nói TTĐC thì trước hết và chủ yếu cũng nói đến báo chí.
[1,5] Báo in “Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, chuyển tải nội dung thông tin bằng chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng, nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định”. [2, 101] Báo in là hình thức truyền thống và lâu đời nhất của báo chí. Đặc điểm, nguyên nhân và hệ luỵ của mất cân bằng giới tính khi sinh 1. Các khái niệm Để tìm hiểu về vấn đề truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) trước hết phải thống nhất khái niệm.
Chúng tôi xin được giới thiệu một số khái niệm cơ bản, thường được sử dụng khi đề cập đến vấn đề này. Giới (Sex) Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới WHO, “Giới là sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới dựa trên những mong đợi, giá trị và chuẩn mực xã hội”. Sự khác nhau giữa con trai và con gái không phải xuất phát từ sự khác biệt trong sinh lý, giải phẫu hay năng lực của con trai và con gái mà hoàn toàn là dựa trên sự mong đợi của xã hội, sự đánh giá của xã hội về năng lực và giá trị khác nhau của con trai và con gái. Tương tự như vậy, con trai thường được hưởng nhiều quyền lợi trong gia đình hơn con gái do con trai được coi trọng hơn.
Chính sự mong đợi và đánh giá khác nhau này là nguồn gốc của bất bình đẳng giới trong xã hội. Giới tính (Gender) Cũng theo WHO, định nghĩa về giới tính được hiểu như sau: “Giới tính là sự khác nhau giữa nam và nữ về mặt sinh học. Giới tính là một khái niệm khoa học ra đời từ môn sinh học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan tới quá trình sinh đẻ và di truyền nòi giống.
Con người khi sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (nam hay nữ)”. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giới tính khi sinh là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học của trẻ em khi sinh. Tỷ số giới tính (Sex Ratio) Nếu phân chia toàn bộ dân số thành hai bộ phận là dân số nam và dân số nữ thì có cơ cấu dân số theo giới tính. Trong nghiên cứu dân số, tiêu thức phân chia này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Cơ cấu giới tính được xác định thông qua “Tỷ số giới tính” hay tỷ lệ nam hoặc nữ trong tổng số dân. Tỷ số giới tính được định nghĩa là số lượng nam giới trên 100 nữ giới. Kể từ năm 1960 đến nay, tỷ số giới tính của dân số Việt Nam luôn nhỏ hơn 100. Tình trạng này là do nam giới có mức tử vong trội hơn và chịu ảnh hưởng nặng nề của các cuộc chiến tranh chống xâm lược từ những năm 40 đến cuối những năm 70 của thế kỷ trước.
Tỷ số (Ratio) quan hệ giữa một phân nhóm dân số này với một phân nhóm dân số khác thuộc cùng một dân số, tức là một phân nhóm này chia cho một phân nhóm khác. Tỷ lệ (Proportion) quan hệ so sánh một phân nhóm dân số với toàn bộ dân số, tức là một phân nhóm dân số chia cho toàn bộ dân số. Tỷ số giới tính khi sinh (Sex ratio at birth) Tỷ số giới tính khi sinh (Sex ratio at birth – SRB) được xác định bằng số trẻ em trai sinh ra sống trên 100 trẻ em gái sinh ra sống trong một năm. Mức sinh học bình thường được xem là cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 103 đến 106 bé trai và nhìn chung là rất ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người.
Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của TSGTKS chênh lệch khỏi mức sinh học bình thường đều phản ánh những can thiệp có chủ ý ở một mức độ nào đó và sẽ làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tự nhiên, đe dọa sự ổn định dân số toàn cầu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TSGTKS tăng cao hoặc giảm quá thấp sẽ tác động trực tiếp đến tỷ số giới tính của các nhóm tuổi và toàn bộ dân số. + Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh Để nghiên cứu chi tiết hơn hiện trạng và sự thay đổi TSGTKS, người ta quan tâm đến các thông tin về giới tính của trẻ em theo thứ tự sinh. Ở Việt Nam, TSGTKS của trẻ đầu lòng khá cao và ở tất cả các thời kỳ, nó đều cao hơn giá trị trung bình.
Nói chung, TSGTKS của những đứa con thứ hai đều có giá trị thấp nhất và giá trị này tăng dần theo lần sinh thứ 3 và thứ 4. Mất cân bằng giới tính khi sinh (Imbalanced sex ratio at birth) Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái. MCBGTKS xảy ra khi tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ. Theo quy ước, TSGTKS ở một vùng/thành phố từ 110 trở lên là MCBGTKS.
Cơ cấu dân số (Population Structure) Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác. (Pháp lệnh dân số) Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trang hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn… Việc nghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân số của một địa phương. Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính. Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần tuý, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội.
Cơ cấu dân số theo tuổi 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ cấu dân số theo tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định. Trong dân số học, cơ cấu theo tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia. Có hai loại cơ cấu dân số theo tuổi: - Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau. Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia thành ba nhóm tuổi: + Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi + Nhóm tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi) + Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên.
Số người trong nhóm tuổi lao động là nguồn nhân lực quan trọng, là vốn quý của quốc gia, cần phải sử dụng số người trong nhóm tuổi này một cách tối ưu để tạo ra sức sản xuất cao nhất cho xã hội. Căn cứ vào ba nhóm tuổi trên, người ta cũng phân biệt dân số ở một quốc gia là già hay trẻ. - Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau. Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia theo khoảng cách đều nhau: 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm.
Cơ cấu dân số theo giới Cơ cấu dân số theo giới biến động theo thời gian và khác nhau ở từng nước, từng khu vực. Thông thường ở những nước phát triển, nữ nhiều hơn nam; ngược lại, ở các nước đang phát triển, nam nhiều hơn nữ. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do chiến tranh, do tai nạn, do tuổi thọ trung bình của nữ thường cao hơn nam và do chuyển cư. Cơ cấu theo giới có ảnh hưởng đến sự phân bố sản xuất, tổ chức đời sống xã hội và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
Khi phân tích cơ cấu theo giới, người ta không chỉ chú ý tới khía cạnh sinh học, mà còn quan tâm tới khía cạnh xã hội như vị thế, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của giới nam và giới nữ. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm, nguyên nhân và hệ lụy Đặc điểm Theo kết quả Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2009 (ĐTDS-2009), tình trạng MCBGTKS đã xảy ra trên phạm vi cả nước (TSGTKS là 110,6/100), trong đó 45/63 tỉnh, thành phố bị MCBGTKS, thậm chí có tỉnh như Hải Dương, Hưng Yên tỷ số này vượt trên mức 120/100.