chương 1 này, bài tiêu luận đã trình bày tông quan các quan điểm trước đây về LTDP. Qua sự phát triển của lý thuyết trong hơn 70 năm qua, các biến đự phòng ngày càng tăng cho thấy sự ảnh hưởng của các yêu tô này đến hiệu quả tô chức ngày cảng lớn. Do đó, việc hiệu sự tác động của các biến dự phòng sẽ giúp cho nhà quản trị có thê đưa ra các quyết định chiến lược đúng đắn nhằm xây đựng nên mô hình tô chức quản trị “tốt nhất? để DN tôn tại, ổn định, hướng đến sự phát triển bền vững. Với mục đích chung là tối đa giá trị DN, các nhà quan tri cần linh hoạt điều chỉnh, nâng cấp, cụ thế hóa mô hình tô chức quản trị phù hợp đề thích nghi với môi trường năng động hiện nay.
Bởi, tiền đề LTDP đã được phát biểu rằng: “Không có mô hình nào là tốt nhất cho tắt cả các tô chức trong mọi hoàn cảnh”. VAN DUNG LY THUYET DU PHONG TRONG NGHIEN CUU KE TOAN - KIEM TOAN Bằng việc áp dụng phương pháp trắc lượng thu mvc (Bibliometrics Analysis), phần mềm VOSyiewer để thống kê và mô hình hóa cái bài báo, bài nghiên cứu (Phụ lục 1, hình 2.2) có liên quan đến việc vận dụng LTDP trong xu hướng nghiên cứu kế toán - kiêm toán như sau: 2. Các nghiên cứu quốc tế 2. Vận dụng LTDP trong quản trị rủi ro bỀn vững 2.
Tổng quan bài báo Bai bao co tén “Sustainability risk management: Are Malysian companies ready?” của tác giả Abdul Razak vả cộng sự, được đăng trên tạp chí Heliyon, xếp hang Q1 theo Scopus, duoc phat hanh vao nam 2024. Bài báo nghiên cứu về những ảnh hưởng của các yêu tô bối cảnh dẫn đến sự san sảng tổ chức triển khai SRM của ngành công nghiệp dầu cọ tại Malaysia. Bài báo dùng thang đo Likert 7 để đo lường các biến. Tiếp đó sử dụng phương pháp mô hình hóa phương trình bằng bình phương tối thiểu theo các cấp (PLS-SEM) dé phân tích và đo lường.
Cách bài báo vận đụng LTDP để lập luận giả thuyết Bài báo phát triển 5 giả thuyết, và LTDP được dùng để lập luận giả thuyết như Sau: HT. Có mối quan hệ tích cực giữa chiến lược bên vững và việc thực hiện SRM. Chiến lược bền vững kết hợp các nguyên tắc phát triển bền vững vào hoạch định chiến lược của tô chức dé (1) giảm tác động hoạt động đến sự bền vững kinh tế, môi trường và xã hội thông qua các sản phẩm, quy trình và chính sách của công ty, (1i) thê hiện cam kết của tô chức trong việc tích hợp kinh tế , các yếu tổ bền vững về môi trường và xã hội với hoạt động kinh doanh, (iii) giảm thiểu các vấn đề về bền vững 12 và (iv) đáp ứng các kỳ vọng về phát triên bền vững. Do đó, LTDP có thể giải thích ảnh hưởng của chiến lược bền vững được các công ty áp dụng đối với việc thực hiện SRM.
Có mối quan hệ tích cực giữa quy mô DN và việc thực hiện SRM. LTDP cho rằng quy mô DN ảnh hưởng đáng kế đến việc triển khai hệ thống quản tri kiém soat (MCS), trong đó các DN lớn hơn có khả năng triển khai MCS nhiều hơn các DN nhỏ. Yếu tố cơ bản 1a “việc chuyên từ MCS truyền thống sang MCS hiện đại hơn đòi hỏi nguồn lực và chuyên gia mà chỉ các công ty lớn mới có đủ khả năng chỉ trả”. Ngoài ra, các công ty lớn thường được chú ý nhiều hơn và được giới truyền thông cũng như các bên liên quan chú ý nhiều hơn về tính bền vững.
Do đó, các nhà máy dầu cọ lớn sẽ có xu hướng triển khai SRM nhiều hơn để giải quyết các vấn đề bền vững và giảm tác động bát lợi của rủi ro bền vững. Có mối quan hệ tích cực giữa sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao và việc thực hién SRM. Theo LTDP, việc thực hiện thành công thay đổi cơ cầu cần có sự hỗ trợ của ban lãnh đạo cấp cao, những người được trao quyền đề phát triển và thực hiện các chuyên đổi. Do đó, sự hỗ trợ của quản lý cấp cao được coi là yêu tố bối cảnh mạnh mẽ góp phan thực hiện MCS.
Hơn nữa, ban lãnh đạo cấp cao cần ưu tiên và đáp ứng nhu cầu về tính bền vững của các bên liên quan bằng cách tích hợp tính bền vững vào các hoạt động của công ty và triên khai MCS hiệu quả để kiếm soát hiệu quả các vấn đề về tính bền vững. MCS có thê truyền đạt thông tin quan trọng vẻ tính bền vững cho ban lãnh đạo cấp cao trong việc thông báo cho các bên liên quan, điều chỉnh các hoạt động bền vững và cung cấp cho nhân viên chương trình đảo tạo đầy đủ về tính bền vững. Có mỗi quan hệ tích cực giữa nhận thức về sự không chắc chắn về môi trường va viéc thuc hién SRM. 13 Theo LTDP,, sự không chắc chắn về môi trường là yếu tô bối cảnh quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện MCS.
Mức độ không chắc chắn về môi trường cao sẽ tác động tiêu cực đến lợi thế cạnh tranh của công ty do khả năng thực hiện các quyết định sáng suốt để ứng phó với sự không chắc chắn là thấp. Do đó, MCS ngày càng quan trọng trong việc tạo ra nhiều thông tin khi gặp phải một môi trường không chắc chắn và không thể đoán trước. Trong một môi trường có mức độ không chắc chắn cao, phạm vi bao phủ rộng rãi của thông tin được tạo ra từ MCS sẽ là yếu tô then chốt giúp các công ty cải thiện chất lượng quyết định đồng thời giảm thiêu sự không chắc chắn, vì thông tin có thê cung cấp nhiều giải pháp tiềm năng hơn. Có mối quan hệ tích cực giữa áp lực pháp lý và việc thực hiện SRM.
Áp lực pháp lý đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đây việc thực hiện các thông lệ và cơ cấu tổ chức thay thế khi các công ty được yêu cầu thay đổi các quy trình và thủ tục hiện có để tuân thủ các quy định bất buộc do chính phủ, các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan có thâm quyên đưa ra. Cụ thê, áp lực pháp lý thúc đây việc thực hiện MCS dé giải quyết nhu cầu mạnh mẽ từ người tiêu dùng và các nhóm môi trường để các công ty kết hợp nhiều thực hành bền vững hơn. Mặc dù một số công ty nhất định sử dụng các phương pháp tiếp cận mang tính phản ứng và chủ động trong việc triển khai MCS, nhưng các phương pháp tiếp cận khác nhau không dẫn đến kết quả tích cực như nhau trong việc giải quyết các vấn đề bền vững. Do đó, nó mang lại vai trò của áp lực pháp lý để thực hiện SRM như MCS, như LTDP đã đưa Ta.
Vận dụng LTDP trong KTQT moi truong 2. Tổng quan về bài báo Bài báo có tên “Tackling the integration challenge between environmental strategy and environmental management accounting” được đăng trên tạp chí Accounting, Auditing & Accountability Journal, xếp hạng Q1 theo Scopus, được phát hành vào năm 2024. 14 Bài báo phân tích về việc mối quan hệ giữa KTQT môi trường (EMA) và chiến lược môi trường (ES) tại các công ty niêm yết ở Sri Lanka. Nghiên cứu thông qua LTDP để xem xét sự thay đổi trong triển khai EMA giữa các tổ chức với mức độ triển khai chiến lược quản lý môi trường khác nhau.
Bài nghiên cứu đã thu thập đữ liệu bằng cách phỏng vấn đê có được bằng chứng chính xác về các công cụ của EMA, đặc điểm thông tin và cách sử dụng chức năng của chúng. Sau đó tiến hành phân tích dữ liệu bằng phần mềm NVIVO. Cách bài báo vận dụng LTDP để lập luận giả thuyết Dựa trên bài nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra giả thuyết sau: HI Việc triển khai KTQT môi trường (EMA) có sự khác biệt đáng kế giữa các công ty ở các cấp độ khả năng quản trị môi trường (EMM) khác nhau. Nghiên cứu trên đã khám phá mối liên hệ giữa chiến lược tổ chức với các công cụ và thông tin KTQT nói chung, một số học giả cho rằng thông tin kế toán môi trường sẽ hỗ trợ các cấp độ thực hiện chiến lược môi trường khác nhau và do đó, EMA phụ thuộc vào EMM của một tổ chức (Parker, 1997; Qian và cộng sự, 2018a).
Như Parker (1997) cho rằng, khi các tô chức chuyên từ chiến lược môi trường phản ứng sang chủ động, hệ thống kế toán cần đổi mới và đa dạng hóa để giải quyết các hoạt động quản lý môi trường phức tạp hơn. Đề ủng hộ quan điểm nay, Christ va Burritt (2013) va Christ (2014) đã phát hiện bằng thực nghiệm rằng EMM có mối liên hệ tích cực với việc áp dụng EMA. Mặc dù giả thuyết trên giả định rằng việc triển khai EMA phụ thuộc vào cấp độ EMM, nhung no không nhất thiết xác định hướng thay đổi của việc triển khai EMA khi các tổ chức hoạt động ở mức độ cao hơn EMM. Gunarathne và Lee (2019a) đã chỉ ra rằng các tổ chức đang ở giai đoạn chuyên môn hóa chức năng (tức là giai đoạn phản ứng) cần thông tin EMA để đạt được hiệu quả thông qua các hoạt động quản lý môi trường.
Họ chỉ ra rằng khi các tổ chức tiến tới các giai đoạn cao hơn của EMM, việc sử dụng thong tin EMA sé duoc mo rong 15 để gói gọn các mục tiêu rộng hơn của công ty bằng cách tập trung vào một số ứng dụng chức năng và lĩnh vực miền như lập ngân sách vốn, thiết lap KPI, báo cáo nội bộ và bên ngoài, các quyết định tối ưu hóa sản phâm và phân tích phương sai. Bằng chứng như vậy chỉ ra rằng việc sử dụng EMA phụ thuộc vào chiến lược môi trường màả tô chức tuân theo. Theo đó, các giả thuyết sau được đưa ra: H2a. Các công ty ở cấp độ EMM càng cao có nhiễu khả năng triển khai các công cụ EMA dựa trên miễn ở mức độ lớn hơn so với các công ty có EMMI cấp tháp.
Các công ty ở cấp độ EMM càng cao có nhiễu khả năng triển khai EMA ở mức độ lớn hơn cho các mục dich sứ dụng chức năng so với những công ty có EMIMf cấp độ thấp. Dựa trên LTDP, nghiên cứu này đã kiêm tra các giai đoạn của chiến lược quản lý môi trường ảnh hưởng như thế nảo đến việc triển khai KTQT môi trường. Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy mức độ chiến lược quản lý môi trường có thê là một yếu tố quyết định tiềm năng của việc sử dụng miền và chức năng của KTQT môi trường.