Luận văn Thạc sĩ Luật: Tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội

Luận văn thạc sĩ luật học về tội cướp giật tài sản tại Hà Nội, phân tích chuyên sâu các khía cạnh pháp lý hình sự và tình hình tội phạm học thực tiễn.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội cướp giật tài sản trên địa bàn Hà Nội

Quyền sở hữu tài sản là quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo vệ nghiêm ngặt. Nền kinh tế thị trường phát triển thúc đẩy lưu thông tài sản đa dạng. Đi liền với đó, tình hình tội phạm xâm phạm quyền sở hữu diễn biến ngày càng phức tạp. Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả nước. Mật độ dân số đông đúc cùng lưu lượng giao thông dày đặc tạo điều kiện phát sinh nhiều loại tội phạm. Trong đó, tội cướp giật tài sản luôn chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu tội phạm hình sự. Hành vi này trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của công dân. Đồng thời, hành vi cướp giật đe dọa nghiêm trọng an toàn giao thông, sức khỏe và tính mạng người đi đường. Việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ luật học về tội cướp giật tài sản mang tính cấp thiết sâu sắc. Đề tài tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự. Công trình hỗ trợ đắc lực cho hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu pháp lý hình sự

Thực tiễn bảo vệ quyền sở hữu tại các đô thị lớn đang đặt ra nhiều thách thức gay gắt. Tội phạm cướp giật tài sản có chiều hướng gia tăng về mức độ liều lĩnh và thủ đoạn thực hiện. Các đối tượng thường lợi dụng không gian công cộng, tuyến phố đông người để gây án chớp nhoáng. Tình trạng này gây tâm lý hoang mang trong dư luận xã hội và làm suy giảm trật tự đô thị. Việc nghiên cứu toàn diện dưới góc độ luật học giúp nhận diện chính xác bản chất pháp lý của hành vi phạm tội. Từ đó, cơ quan tiến hành tố tụng có thể định khung hình phạt chính xác và áp dụng pháp luật đồng bộ, hiệu quả.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội

Nghiên cứu tập trung vào hệ thống lý luận về tội cướp giật tài sản theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam. Không gian nghiên cứu giới hạn trên địa bàn thủ đô Hà Nội. Nơi đây tập trung nhiều đầu mối giao thông huyết mạch và hoạt động thương mại sầm uất. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá thực trạng số vụ án và phương thức hoạt động của tội phạm. Đồng thời, đề tài phân tích sâu sắc các nguyên nhân và điều kiện kinh tế, xã hội làm phát sinh hành vi phạm tội. Kết quả phân tích hướng đến việc đề xuất các giải pháp mang tính ứng dụng thực tiễn cao.

II. Phân tích pháp lý hình sự và tội phạm học cướp giật tài sản

Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản thể hiện ở hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai. Kẻ phạm tội thường lợi dụng triệt để sự sơ hở, mất cảnh giác của nạn nhân hoặc tạo tình huống bất ngờ. Sự sơ hở này xuất phát từ yếu tố chủ quan của chủ sở hữu tài sản. Đây là ranh giới cốt lõi để phân biệt với trở ngại khách quan trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Về dấu hiệu dùng vũ lực, tội cướp giật không bắt buộc phải có hành vi bạo lực trước khi chiếm đoạt. Nếu có vũ lực, hành vi đó chỉ nhằm mục đích tẩu thoát hoặc giữ tài sản vừa lấy được. Dấu hiệu này khác với tội cướp tài sản vốn sử dụng bạo lực để làm tê liệt ý chí nạn nhân ngay từ đầu. Dưới góc độ tội phạm học, số liệu thống kê tại Hà Nội cho thấy nhiều diễn biến phức tạp. Các đối tượng phạm tội chủ yếu trong độ tuổi thanh thiếu niên, thiếu việc làm hoặc mắc tệ nạn xã hội. Phương thức gây án phổ biến là sử dụng xe máy phân khối lớn để dễ dàng tẩu thoát.

2.1. Dấu hiệu pháp lý phân biệt tội cướp giật tài sản

Phân định tội cướp giật tài sản với tội cướp và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là vấn đề nghiệp vụ then chốt. Tội cướp tài sản đòi hỏi hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân. Ngược lại, tội cướp giật tài sản dựa trên tốc độ và sự bất ngờ. Hành vi chiếm đoạt diễn ra công khai, chớp nhoáng trước mắt chủ tài sản. Người phạm tội chỉ dùng vũ lực khi bị truy đuổi để tẩu thoát an toàn. Việc xác định đúng bản chất pháp lý giúp tránh định tội danh sai và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật hình sự.

2.2. Đặc điểm tội phạm học và nguyên nhân phát sinh tại Hà Nội

Nghiên cứu tội phạm học chỉ ra nhiều nguyên nhân sâu xa dẫn đến hành vi cướp giật tài sản tại Hà Nội. Sự phân hóa giàu nghèo cùng quá trình đô thị hóa nhanh tạo ra những sơ hở trong quản lý nhân khẩu. Nhiều thanh niên lười lao động, bị lôi kéo vào tệ nạn ma túy, cờ bạc đã chọn con đường phạm tội. Bên cạnh đó, thói quen sơ hở của người dân khi sử dụng điện thoại, túi xách trên đường phố đã tạo cơ hội thuận lợi cho tội phạm. Công tác tuần tra tại một số địa bàn giáp ranh chưa thực sự khép kín thời gian.

III. Giải pháp phòng chống tội cướp giật tài sản tại thành phố Hà Nội

Công tác đấu tranh phòng ngừa tội cướp giật tài sản tại Hà Nội đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan chức năng. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự là yêu cầu nền tảng. Các cơ quan tư pháp trung ương cần ban hành hướng dẫn chi tiết để thống nhất nhận thức về các tình tiết định khung hình phạt. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán giữ vai trò quyết định. Lực lượng công an cần tăng cường biện pháp nghiệp vụ chuyên sâu và bố trí lực lượng tuần tra công khai kết hợp mật phục. Các tổ công tác liên quân trên các tuyến giao thông trọng điểm cần hoạt động liên tục vào các khung giờ cao điểm. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ hiện đại như hệ thống camera giám sát thông minh tại các nút giao thông là giải pháp đột phá. Mô hình cảnh sát công nghệ cao giúp phát hiện, theo vết và bắt giữ tội phạm nhanh chóng.

3.1. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tư pháp

Hệ thống pháp luật hình sự cần được rà soát và sửa đổi để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đô thị. Cần quy định rõ ràng trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng phương tiện tốc độ cao khi cướp giật. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cần tăng cường phối hợp liên ngành chặt chẽ. Việc thụ lý, điều tra và đưa ra xét xử kịp thời các vụ án điểm có tác dụng răn đe, giáo dục sâu sắc. Đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm.

3.2. Đẩy mạnh phòng ngừa xã hội và tuần tra nghiệp vụ

Phòng ngừa xã hội là giải pháp căn cơ nhằm triệt tiêu các điều kiện phát sinh tội phạm cướp giật tài sản. Chính quyền địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản của người tham gia giao thông. Cần quản lý chặt chẽ người nghiện ma túy và người có tiền án, tiền sự tại nơi cư trú. Đồng thời, lực lượng công an cơ sở phải tăng cường tuần tra tại các tuyến phố thương mại sầm uất, bến xe và địa bàn giáp ranh. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc cần được nhân rộng tại từng cụm dân cư.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu tội phạm cướp giật ở Hà Nội

Nghiên cứu tội cướp giật tài sản dưới góc độ pháp lý hình sự và tội phạm học có ý nghĩa to lớn đối với an ninh trật tự tại Hà Nội. Đề tài luận văn thạc sĩ luật học đã làm rõ cấu thành tội phạm, ranh giới định danh và quy luật biến động của hành vi cướp giật. Kết quả nghiên cứu làm phong phú thêm kho tàng lý luận khoa học luật hình sự Việt Nam. Đồng thời, công trình mang giá trị ứng dụng thực tiễn rất cao. Các cơ quan tiến hành tố tụng có thể vận dụng trực tiếp các kiến nghị để nâng cao chất lượng khởi tố, điều tra và xét xử. Các giải pháp phòng ngừa nghiệp vụ và xã hội cung cấp căn cứ vững chắc cho lực lượng công an xây dựng phương án tác chiến lâu dài. Sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận học thuật và thực tiễn thi hành pháp luật sẽ góp phần kéo giảm tội phạm cướp giật tài sản, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân thủ đô.

4.1. Đóng góp lý luận của luận văn thạc sĩ luật học

Luận văn đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về các tội xâm phạm sở hữu trong pháp luật hình sự Việt Nam. Công trình phân tích đa chiều bản chất pháp lý của hành vi cướp giật tài sản trên địa bàn đô thị lớn. Điểm mới của nghiên cứu là sự kết hợp chặt chẽ giữa quy định pháp luật thực định và dữ liệu tội phạm học thực tế. Những đánh giá khoa học này là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho công tác đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu tại các cơ sở đào tạo luật học trên cả nước.

4.2. Giá trị ứng dụng trong công tác đấu tranh phòng ngừa

Giá trị thực tiễn của công trình thể hiện ở hệ thống giải pháp khả thi, sát hợp với tình hình thực tế tại thủ đô Hà Nội. Các khuyến nghị về bố trí lực lượng tuần tra, khai thác hệ thống giám sát và quản lý nhân khẩu giúp công an chủ động nắm chắc tình hình. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ nâng cao tỷ lệ khám phá các vụ án cướp giật tài sản. Từ đó, bảo vệ quyền sở hữu của công dân và duy trì ổn định trật tự an toàn xã hội đô thị.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật học tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố hà nội một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Tội cướp giật tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam 1. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản 1. Giai đoạn trước năm 1999 Ngay từ những ngày đầu mới giành độc lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ta vừa phải đối phó với thù trong giặc ngoài, vừa từng bước quản lý, xây dựng đất nước. Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động ổn định trật tự, an ninh chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu nhà nước đã ký Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng một số văn bản của pháp luật cũ không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa.

Như vậy, pháp luật của chế độ cũ được áp dụng theo tinh thần của nhà nước dân chủ mới, Hoàng Việt hình luật được áp dụng ở Bắc Kỳ và luật pháp tu chính được áp dụng ở Nam Kỳ. Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng đã từng bước ban hành những văn bản pháp luật mới quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội và các chế tài áp dụng đặc biệt là những hành vi xâm phạm đến sở hữu của nhà nước và sở hữu của công dân, góp phần bảo vệ các quan hệ xã hội tiến bộ trong xã hội mới. Tuy còn mới sơ khai nhưng pháp luật hình sự thời kỳ này đã khái quát, nhận diện được những hành vi xâm hại sở hữu trong thực tế và có các quy định thành các tội phạm cụ thể làm cơ sở pháp lý cho cơ quan tòa án xét xử. Đồng thời các văn bản này còn quy định chế tài cụ thể và đường lối xử lý các tội phạm cụ thể xâm phạm sở hữu.

Trong giai đoạn này, tội cướp giật tài sản được quy định thành hai tội riêng biệt căn cứ vào đối tượng bị xâm hại là tài sản thuộc sở hữu xã hội chủ 6 nghĩa (XHCN) hay tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân. Cụ thể, tội cướp giật tài sản đã được quy định trong hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 của ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đến lần pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ nhất, Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1985 (BLHS năm 1985) đã được Quốc hội thông qua vào ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 1/1/1986 trên toàn quốc cũng quy định về tội cướp giật tài sản như sau: Điều 131 quy định: 1. Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 129, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a. Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp. Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác.

Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến 20 năm [7]. Điều 154 quy định: 1. Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 151, thì bị phạt tù từ ba tháng đến 3 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến 10 năm: a. Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp. Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản cú giỏ trị lớn hoặc gõy hậu quả nghiờm trọng khỏc.

Tỏi phạm nguy hiểm. Phạm tội trong truờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thỡ bị phạt tự từ bảy năm đến hai mươi lăm năm [7]. - Về hỡnh phạt: Tư tưởng chỉ đạo giai đoạn này là chỳ trọng bảo vệ tài sản chung (tài sản XHCN) hơn tài sản riờng (tài sản tư nhõn). Trước khi cú BLHS năm 1985, cỏc hỡnh phạt khụng được quy định tập trung, sắp xếp theo một trật tự nhất định và cũng khụng cú tiờu chớ đỏnh giỏ, ỏp dụng thống nhất.

Đến khi BLHS năm 1985 ra đời, một hệ thống hình phạt và tiêu chí áp dụng nó tương đối đầy đủ mới được quy định tập trung, thống nhất. Điều này đã thể hiện được mục đích của Nhà nước ta không chỉ dùng hình phạt về hình sự để trừng trị, mà còn nhằm giáo dục, cải tạo và răn đe người khác. So với hai Phỏp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân thỡ BLHS năm 1985 có mức phạt tối đa cao hơn. Ở BLHS năm 1985, mức phạt tối đa là 15 năm với tội cướp giật tài sản riờng cụng dõn và 20 năm với tội cướp giật tài sản XHCN.

Mức hỡnh phạt tối thiểu là một năm với tội cướp giật tài sản XHCN và 3 tháng với tội cướp giật tài sản riờng của công dõn là tương đương với hai Pháp lệnh năm 1970. Điều này thể hiện đường lối xử lý nghiờm khắc hơn của Nhà nước ta với tội cướp giật tài sản so với giai đoạn trước. Thay vỡ cú 2 khung hỡnh phạt ở hai phỏp lệnh năm 1970, BLHS năm 1985 quy định 3 khung hỡnh phạt và đối với các tình tiết định khung tăng nặng, thì tại hai điều 131 và 154 còn quy định thêm hai tình tiết mới là "dùng thủ đoạn nguy hiểm" và "chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác". Khung 3 quy định chung các trường hợp phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng.

8 Đối với tội cướp giật tài sản ngoài hỡnh phạt chớnh cũn cú thể ỏp dụng hỡnh phạt bổ sung quy định tại khoản 2 và 3 Điều 142; khoản 2, 3 Điều 163 BLHS năm 1985 bao gồm hỡnh phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm hay bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Cùng với sự ra đời của BLHS năm 1985, các quy định về tình tiết tăng nặng (Điều 39), tình tiết giảm nhẹ (Điều 38) cũng lần đầu tiên được quy định tập hợp và tương đối đầy đủ làm tiêu chí khi quyết định hình phạt. Đây là một cố gắng lớn của nhà làm luật nước ta để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật hình sự, tránh sự tùy tiện hoặc áp đặt ý chí chủ quan của người Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân khi xét xử. Hầu hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong hai Pháp lệnh năm 1970 đã được giữ lại và bổ sung thêm rất nhiều tình tiết mới.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) còn có các hướng dẫn nghiệp vụ về một số tình tiết khác cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ như: người phạm tội đầu thú, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho bị cáo. Ngày 28/12/1989, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, trong đó bổ sung thêm một tỡnh tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hỡnh sự (TNHS) đối với người "phạm tội cú tớnh chất chuyờn nghiệp" vào điểm a khoản 2 của các điều luật quy định về tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, thời điểm này chưa có hướng dẫn cụ thể về tình tiết này mà chỉ có lời kết luận của Chỏnh ỏn TANDTC tại hội nghị tổng kết cụng tỏc ngành Tũa ỏn năm 1991 hướng dẫn về "phạm tội cú tớnh chuyờn nghiệp" là trường hợp: Ngoài bọn lưu manh chuyên nghiệp ra, người thực hiện một hay nhiều tội cùng loại (thuộc nhóm khách thể) những tội phạm lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc phạm rất nhiều tội (khụng kể là loại tội gỡ) lấy đó làm nguồn thu nhập chớnh hoặc nghề sống chớnh thỡ đều coi là "cú tớnh chất chuyờn nghiệp". Đến nay, khái niệm "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" đã được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng 9 thẩm phán TANDTC.

Theo đó, người phạm tội phải có đủ hai điều kiện: cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích và họ lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Nguyên tắc xử lý quy định trong BLHS năm 1985 nói chung không có gì thay đặi so với Pháp lệnh năm 1970. Theo Điều 3 BLHS năm 1985 thì mọi hành vi phạm tội nói chung và hành vi xõm phạm sở hữu phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. Cơ sở của TNHS là chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu TNHS.

Như vậy, chúng ta khụng thể truy cứu TNHS một người nếu hành vi của họ không được luật hỡnh sự quy định là tội phạm. Khi phỏt hiện hành vi xâm phạm sở hữu phải được xử lý nghiờm minh theo đúng pháp luật, bất kỳ ai có hành vi xâm phạm sở hữu đều bị xử lý. Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kẻ ngoan cố chống đối, lưu manh, cụn đồ, tái phạm, kẻ biến chất sa đọa, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, kẻ phạm tội có tổ chức, gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng với người tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đó gõy ra.

Giai đoạn sau năm 1999 Nhìn chung, quy định về tội cướp giật tài sản trong pháp luật hình sự tương đối ổn định. Qua lần pháp điển hóa BLHS lần thứ nhất và trải qua 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các ngày 12/8/199l, 22/12/1992 và ngày 10/5/1997, tội cướp giật tài sản trong pháp luật hình sự nước ta khụng cú gỡ thay đổi. Xuất phỏt từ yờu cầu của xã hội, cùng sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của tội phạm khi đất nước ta chuyển đặi sang nền kinh tế hàng húa nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN. Để đảm bảo và thực hiện sự bỡnh đẳng của 10 các thành phần kinh tế đũi hỏi Nhà nước ta phải có quan niệm bình đẳng về vấn đề sở hữu chung và sở hữu riêng.

Chính sách hình sự và phỏp luật hỡnh sự cũng phải đặi mới tư duy bảo vệ sở hữu chung và sở hữu riêng như nhau, không phân biệt, thiên vị dựa trên quan điểm này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ