Luận văn: Đổi mới quản lý DN khai thác công trình thủy lợi tỉnh Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi tại tỉnh Thanh Hóa.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
122
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi Thanh Hóa

Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi tại Thanh Hóa giữ vai trò nòng cốt trong việc điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống. Đây là mô hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích với tính chất đặc thù cao. Sản phẩm dịch vụ thủy nông không mang tính thương mại thuần túy mà phục vụ an sinh xã hội, an ninh lương thực và phòng chống thiên tai. Tỉnh Thanh Hóa có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, mạng lưới sông ngòi phân bố không đều. Do đó, hệ thống thủy lợi đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ và vận hành khoa học. Các đơn vị thủy nông trên địa bàn tỉnh quản lý nhiều hồ đập, trạm bơm và kênh mương quan trọng. Hoạt động quản lý doanh nghiệp bao gồm việc lập kế hoạch tích nước, phân phối lưu lượng và duy tu bảo dưỡng tài sản hạ tầng. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường đặt ra nhiều thách thức lớn cho các đơn vị này. Nhu cầu nước cho công nghiệp và đô thị hóa ngày càng tăng. Doanh nghiệp cần chuyển dịch phương thức quản trị truyền thống sang mô hình hiện đại, năng động và hiệu quả hơn.

1.1. Đặc thù hoạt động của doanh nghiệp thủy lợi

Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi mang tính chất cung cấp dịch vụ công ích đặc thù. Giá dịch vụ thủy nông chịu sự chi phối và kiểm soát của Nhà nước, không tuân theo quy luật cung cầu thị trường. Đầu ra của doanh nghiệp gắn liền với kết quả mùa vụ nông nghiệp và an sinh dân sinh tại địa phương. Doanh nghiệp phải quản lý hệ thống hạ tầng trải rộng trên nhiều địa bàn phức tạp. Tài sản công trình có giá trị lớn nhưng tỷ suất sinh lời tài chính trực tiếp không cao. Mục tiêu hàng đầu là phục vụ lợi ích cộng đồng, phòng chống úng ngập và xâm nhập mặn.

1.2. Vai trò hạ tầng thủy nông tại tỉnh Thanh Hóa

Hệ thống công trình thủy lợi tại Thanh Hóa là nền tảng bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông nghiệp. Tỉnh có diện tích canh tác lớn với nhiều lưu vực sông như sông Mã, sông Chu và sông Yên. Công trình thủy lợi giúp cung cấp nước tưới tiêu cho hàng trăm nghìn hecta đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, hệ thống này còn cấp nước thô cho công nghiệp và sinh hoạt đô thị. Việc vận hành hiệu quả các hồ chứa và trạm bơm giúp cắt giảm đỉnh lũ vào mùa mưa bão, hạn chế triều cường và duy trì mực nước ngầm ổn định trong mùa khô hạn kéo dài.

II. Thực trạng quản lý doanh nghiệp thủy lợi trên địa bàn Thanh Hóa

Quản lý doanh nghiệp thủy nông tại Thanh Hóa bộc lộ nhiều hạn chế sau thời gian dài vận hành. Cơ chế tài chính hiện tại chưa tạo ra tính tự chủ thực sự cho doanh nghiệp. Nguồn thu từ thủy lợi phí và ngân sách hỗ trợ công ích còn hạn hẹp, thường xuyên chậm trễ. Tình trạng thu không đủ bù đắp chi phí vận hành diễn ra phổ biến tại hầu hết các đơn vị. Doanh nghiệp thiếu nguồn vốn để duy tu, bảo dưỡng định kỳ và nâng cấp trang thiết bị. Nhiều công trình hồ đập, trạm bơm đã xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn rủi ro an toàn lớn trong mùa mưa bão. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý tại các doanh nghiệp còn cồng kềnh, phân tán và năng suất lao động chưa cao. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật còn thiếu hụt chuyên môn về quản trị kinh tế hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đo đạc lưu lượng và giám sát tự động hóa còn rất hạn chế. Tình trạng thất thoát nước trên kênh dẫn diễn ra thường xuyên. Cơ chế kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ tưới tiêu chưa gắn liền với trách nhiệm cá nhân cụ thể.

2.1. Khó khăn về cơ chế tài chính và tự chủ vốn

Cơ chế tài chính bao cấp kéo dài tạo nên sự phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước. Mức trợ cấp tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi còn thấp so với biến động giá cả thị trường. Chi phí tiền điện, vật tư sửa chữa và nhân công không ngừng tăng cao. Tình trạng mất cân đối thu chi khiến doanh nghiệp không thể chủ động đầu tư tái thiết hạ tầng. Việc quyết toán kinh phí hỗ trợ thường kéo dài qua nhiều thủ tục hành chính phức tạp. Doanh nghiệp thiếu hụt dòng tiền lưu động để xử lý các sự cố sạt lở hoặc hỏng hóc máy bơm khẩn cấp.

2.2. Bất cập trong bộ máy và công nghệ quản trị

Mô hình tổ chức bộ máy tại các đơn vị quản lý thủy nông Thanh Hóa còn bộc lộ nhiều tầng nấc trung gian. Tỷ lệ lao động gián tiếp còn cao, trong khi lực lượng công nhân trực tiếp quản lý tuyến kênh thiếu chế độ đãi ngộ thỏa đáng. Trình độ ứng dụng công nghệ số vào điều hành thủy lợi còn ở mức sơ khai. Việc quan trắc mực nước và đóng mở cống xả phần lớn vẫn dựa vào thao tác thủ công. Dữ liệu vận hành hệ thống chưa được số hóa đồng bộ, gây khó khăn cho công tác dự báo thủy văn và ứng phó biến đổi khí hậu.

III. Giải pháp đổi mới quản lý doanh nghiệp thủy lợi tỉnh Thanh Hóa

Đổi mới toàn diện công tác quản lý doanh nghiệp thủy nông là yêu cầu cấp thiết của tỉnh Thanh Hóa. Trọng tâm hàng đầu là chuyển đổi cơ chế quản lý từ phục vụ thụ động sang cung ứng dịch vụ theo hợp đồng kinh tế rõ ràng. Nhà nước cần hoàn thiện khung giá dịch vụ thủy lợi theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý. Doanh nghiệp cần đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ gia tăng như cấp nước sinh hoạt, xử lý môi trường nước và kết hợp phát triển du lịch sinh thái hồ đập. Nguồn thu bổ sung sẽ giúp cải thiện tình hình tài chính và giảm áp lực phụ thuộc ngân sách. Đồng thời, doanh nghiệp phải sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp và phân quyền minh bạch. Cần ban hành các chỉ số đánh giá hiệu quả công việc KPI cho từng vị trí lao động. Đầu tư chuyển đổi số là đòn bẩy quan trọng để tối ưu hóa chi phí vận hành. Doanh nghiệp cần lắp đặt hệ thống SCADA tự động hóa cho các trạm bơm và hồ chứa lớn. Mạng lưới cảm biến giám sát nguồn nước theo thời gian thực sẽ nâng cao độ chính xác trong điều tiết tưới tiêu.

3.1. Hoàn thiện cơ chế tài chính và giá dịch vụ

Tỉnh cần đẩy mạnh thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ gắn liền với chất lượng dịch vụ cung cấp. Doanh nghiệp thủy lợi phải xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật chính xác cho từng hạng mục công trình. Cần mở rộng cơ chế tự chủ tài chính đối với các trạm cấp nước có khả năng thu hồi vốn tốt. Đơn vị cần chủ động tìm kiếm các hợp đồng cấp nước công nghiệp cho các khu kinh tế Nghi Sơn và các cụm công nghiệp tập trung. Mô hình hợp tác công tư PPP trong đầu tư, sửa chữa trạm bơm đầu mối cũng cần được thí điểm áp dụng bài bản.

3.2. Hiện đại hóa hạ tầng và chuyển đổi số quản trị

Ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp đột phá nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần xây dựng bản đồ số GIS quản lý toàn bộ hệ thống kênh mương và hồ chứa trên địa bàn. Việc lắp đặt các trạm đo mưa tự động và thiết bị đo lưu lượng tại cống đầu mối giúp tối ưu hóa lịch phân phối nước. Doanh nghiệp cần áp dụng phần mềm quản trị tài sản doanh nghiệp ERP để theo dõi khấu hao và lập kế hoạch sửa chữa định kỳ. Đào tạo nâng cao kỹ năng số cho cán bộ quản lý là điều kiện tiên quyết bảo đảm chuyển đổi thành công.

IV. Ứng dụng thực tiễn đổi mới doanh nghiệp thủy nông tỉnh Thanh Hóa

Việc tiếp tục đổi mới quản lý doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi tại Thanh Hóa mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Khi các giải pháp quản trị hiện đại được áp dụng đồng bộ, hiệu quả khai thác nguồn nước sẽ tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ thất thoát nước trên các hệ thống kênh chính giảm đáng kể, bảo đảm cung cấp nước kịp thời cho sản xuất vụ Chiêm Xuân và Mùa. An toàn hồ đập được nâng cao trước các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai bão lũ bất thường. Bên cạnh đó, mô hình quản lý mới giúp doanh nghiệp nâng cao tính tự chủ, bảo đảm đời sống vật chất cho người lao động. Đóng góp của ngành thủy nông đối với tăng trưởng kinh tế địa phương sẽ ngày càng vững chắc. Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho các nhà hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa. Việc triển khai các mô hình quản trị mẫu sẽ tạo tiền đề nhân rộng cho các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng trên cả nước.

4.1. Lợi ích kinh tế xã hội và bảo vệ tài nguyên

Đổi mới quản lý mang lại hiệu quả kép về cả kinh tế và môi trường sinh thái. Nông dân được hưởng dịch vụ tưới tiêu ổn định, giúp tăng năng suất cây trồng và giảm thiểu rủi ro hạn hán. Nguồn nước ngọt được quản lý khoa học giúp ngăn chặn hiệu quả hiện tượng xâm nhập mặn tại vùng ven biển Nga Sơn, Hậu Lộc. Việc vận hành hồ chứa hợp lý góp phần duy trì dòng chảy môi trường và nâng cao trữ lượng nước ngầm. Doanh nghiệp giảm thiểu chi phí năng lượng bơm tưới, từ đó tiết kiệm ngân sách chi trả công ích cho tỉnh.

4.2. Lộ trình triển khai đổi mới quản lý thực tế

Quá trình đổi mới cần được thực hiện theo lộ trình từng bước vững chắc và có trọng điểm. Giai đoạn đầu tập trung rà soát toàn bộ tài sản hạ tầng, sắp xếp lại bộ máy nhân sự và tinh giản biên chế. Giai đoạn tiếp theo tiến hành hoàn thiện định mức kinh tế kỹ thuật và áp dụng cơ chế đấu thầu cung cấp dịch vụ thủy nông tại các tiểu vùng. Giai đoạn ba tập trung nguồn lực đầu tư số hóa và tự động hóa toàn diện các công trình đầu mối trọng điểm. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền tỉnh, doanh nghiệp và người dân là yếu tố quyết định thành công.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths kt tiếp tục đổi mới quản lý các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh thanh hoá

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Yêu cầu khách quan tiếp tục đổi mới quản lý doanh nghiệp thủy nông ở nước ta. Doanh nghiệp thủy nông - một doanh nghiệp Nhà nước đặc thù. Doanh nghiệp thủy nông ở nước ta chủ yếu là DNNN, nó có vai trò và đặc điểm của DNNN nói chung và có tính đặc thù riêng, là một loại hình doanh nghiệp công ích, vừa phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, trước hết là nông nghiệp, vừa phục vụ mục tiêu xã hội, dân sinh và bảo vệ môi trường sinh thái. Do đó để nghiên cứu đổi mới quản lý DNTN cần phải nghiên cứu vấn đề DNNN nói chung, từ đó làm cơ sở cho lý luận nghiên cứu vai trò, đặc điểm, yêu cầu và nội dung quản lý DNTN.

Doanh nghiệp Nhà nước và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân nước ta. DNNN là những cơ sở kinh doanh do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hoặc một phần. Quyền sở hữu thuộc về Nhà nước là đặc điểm cơ bản nhất để phân biện DNNN với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế và trong khu vực tư nhân. Đặc trưng này quy định sự kiểm soát trong một chừng mực nào đó của Chính phủ bao gồm cả sự lãnh đạo, chỉ đạo và quyền can thiệp vào hoạt động kinh doanh của DNNN.

7 * Vai trò của DNNN trong nền kinh tế. Sự ra đời của khu vực DNNN ở các nước trên thế giới từ những lý do khác nhau, song đều bắt nguồn từ nhu cầu tự nhiên của nền kinh tế với những mục đích khác nhau như khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, bù đắp những thiếu hụt của khu vực kinh tế tư nhân. Nói cách khác khu vực DNNN có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho Nhà nước thực hiện các chức năng như: điều chỉnh thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế - xã hội. Có thể khái quát khu vực DNNN có các vai trò sau: + Vai trò kinh tế: - ở các nước phát triển, DNNN được sử dụng như là một phương tiện để Chính phủ tác động và thực hiện những mục tiêu kinh tế mà khu vực tư nhân không thể hoặc không muốn thực hiện, hoặc DNNN như là một cách để ngăn ngừa sự độc quyền của khu vực tư nhân đối với những lĩnh vực dễ ảnh hưởng chung đến lợi ích xã hội.

Mặt khác, các DNNN ở những nước phát triển cũng được lập ra để kiểm soát những khu vực có tầm quan trọng chiến lược như các ngành công nghiệp quốc phòng, khai thác mỏ hoặc một số ngành công nghiệp mũi nhọn khác. Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), ở các quốc gia phát triển, DNNN thường chiếm khoảng 10% GDP. 8 - ở các nước đang phát triển, Chính phủ thành lập các DNNN để tạo lập kết cấu hạ tầng và các ngành dịch vụ công cộng. Tuy nhiên, khác với các quốc gia phát triển, vì đi sau muốn tiến nhanh, đuổi kịp các nước tiên tiến, Chính phủ các nước đang phát triển thường dựa nhiều hơn vào các DNNN, xem chúng như là những công cụ chủ yếu để tăng trưởng nền kinh tế.

- Đối với các nước quá độ lên CNXH. Để thực hiện chiến lược tăng tốc rút ngắn và tạo dựng cơ sở kinh tế của Nhà nước XHCN, Nhà nước đã lựa chọn giải pháp xây dựng và phát triển các DNNN và được coi như điều kiện tiên quyết của sự phát triển đất nước. Sự lựa chọn này không phải mang tính chủ quan, mà có đòi hỏi sự tất yếu của bản thân nền kinh tế.Điều đó được quy định bởi hai ưu thế tuyệt đối của các DNNN ở thời kỳ quá độ của sự phát triển: Thứ nhất là: ưu thế về quy mô tập trung sản xuất, nhờ đó có ưu thế về khả năng huy động vốn và khả năng tham gia vào thị trường thế giới. Thứ hai là: Với sức mạnh dựa vào quy mô tập trung sản xuất kinh doanh các DNNN có ưu thế trong việc chuyển giao công nghệ hiện đại.

Điều này đồng thời làm cho các doanh nghiệp trở thành đối t ác chính với các nhà đầu tư nước ngoài. Các ưu thế của DNNN có thể quy về những điểm chính: tập trung vốn, tập trung sản xuất, chuyển giao công nghệ và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Những ưu thế này khiến cho DNNN trở thành một yếu tố quyết định con 9 đường phát triển với chiến lược tăng tốc và rút ngắn khoảng thời gian quá độ lên CNXH. Mặt khác, trong quan hệ với cơ chế điều tiết của Nhà nước, DNNN có một vai trò đặc biệt.

Đối với những nền kinh tế đang trong bước chuyển sang nền kinh tế phát triển, hệ thống doanh nghiệp nói chung còn kém phát triển, đặc biệt là khu vực tư nhân còn bé nhỏ thì DNNN với quy mô lớn, trình độ công nghệ cao. là một công cụ trực tiếp có tính quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế. Do đó các DNNN có vai trò đặc biệt trong việc làm thay đổi cơ cấu sản xuất xã hội và định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế. Khu vực DNNN ở các nước này trở thành công cụ trực tiếp để Chính phủ tham gia quyết định những vấn đề trong nền kinh tế thị trường.

Đó là việc DNNN có thể tham gia khắc phục trạng thái độc quyền tự nhiên, những tác động hướng ngoại tiêu cực phát sinh trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời DNNN là một công cụ quan trọng lấp vào những chỗ trống mà doanh nghiệp tư nhân không muốn làm bởi lợi nhuận thấp hoặc không có khả năng làm. Đó là những trường hợp cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng, đầu tư vào những lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao, thời gian thu hồi vốn dài, và hiệu quả thấp nhưng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống kinh tế - xã hội, đối với sự phát triển bền vững lâu dài của nền kinh tế. Có thể nói, DNNN có vai trò đặc biệt trong việc đầu tư vào những ngành quyết định cho sự phát triển dài hạn và hiệu quả chung của nền kinh tế.

+ Vai trò chính trị. 10 Đối với các nước quá độ lên CNXH, DNNN có ý nghĩa chính trị đặc biệt. Nó là bộ phận định hướng về mặt kinh tế và là công cụ thực hiện chính sách theo định hướng XHCN. Thực vậy ở nước ta hệ thống DNNN cung cấp cho Nhà nước một cơ sở kinh tế để Nhà nước trở thành một lực lượng chi phối trực tiếp đối với bộ phận kinh tế tư nhân.

Thêm vào đó, ở giai đoạn đầu của tiến trình phát triển, DNNN là bộ phận tạo thành nền tảng của nền kinh tế. Nó cung cấp nguồn lực chính, chủ yếu cho hoạt động của Nhà nước, như đóng góp cho ngân sách Nhà nước, đồng thời là công cụ trực tiếp hữu hiệu để thúc đẩy nền kinh tế theo định hướng XHCN và thực hiện những mục tiêu kinh tế, xã hội do Đảng Cộng sản và Chính phủ đề ra. Đối với an ninh quốc gia, các DNNN ngoài việc tham gia trong việc tăng cường bố phòng ở các vùng chiến lược, trong việc gắn phát triển kinh tế với quốc phòng, DNNN đảm nhận nhiệm vụ đặc biệt trong việc cung cấp những hàng hoá, dịch vụ cho các hoạt động quốc phòng, mà trong điều kiện một nước chậm phát triển, tư nhân không thể làm được hoặc không được phép làm, hoặc không muốn làm vì không có mức lợi nhuận hấp dẫn. + Vai trò xã hội.

Trong nền kinh tế thị trường, đã là doanh nghiệp dù của Chính phủ hay của tư nhân, đều chịu sự chi phối của quy luật thị trường. Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải tạo ra được lợi nhuận. Nhưng hoạt động của kinh tế thị trường có những khuyết tật gây hiệu ứng xã hội. Đó là, trong giai đoạn khủng hoảng, lợi nhuận giảm 11 đáng kể, nhiều doanh nghiệp rút khỏi kinh doanh, tạo ra thất nghiệp lớn.

Để điều tiết nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng, những chính sách kinh tế vĩ mô chiếm vị trí quyết định. Tuy nhiên, ở đây DNNN với tính cách là một công cụ trực tiếp cũng có vai trò xã hội nhất định. Một mặt nó góp phần đẩy kinh tế qua thời kỳ khủng hoảng nhưng mặt khác, mặt quan trọng là mặt xã hội, nó tạo ra công ăn việc làm giúp cho xã hội giữ được trạng thái ổn định. - Trong nền kinh tế thị trường, sự phân hoá giầu nghèo là không tránh khỏi.

Một trong những nguồn gốc của quá trình này là tập trung hoá, hiện đại hoá và kết quả là giải phóng lao động, gây nên nạn thất nghiệp. Nhưng tập trung hoá, mở rộng quy mô, thúc đẩy công nghệ kỹ thuật tiến bộ là tất yếu của quá trình theo đuổi tăng lợi nhuận, vì thế không thể cản trở được quá trình này. Để tạo ra nhiều việc làm thì phải tạo ra những doanh nghiệp sử dụng những lao động. Đây là chỗ Nhà nước cần can thiệp, bằng DNNN sử dụng nhiều lao động, Nhà nước có thể giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập, do đó giảm sự bất bình đẳng trong xã hội.

- Trong một quốc gia, có những vùng xa xôi hẻo lánh, trình độ phát triển thấp, dân cư ở những vùng này phải chịu nhiều thiệt thòi vì sự phát triển mất cân đối. Để cải thiện những vùng này, vấn đề là phải có chính sách đầu tư và những cơ sở việc làm ở đây. Cũng nhờ có những DNNN mới đủ điều kiện để thực hiện những chương trình dự án cải thiện những vùng kém phát triển của đất nước. 12 - Xã hội phát triển, hàng hoá và dịch vụ công cộng cũng tăng.

Nhưng hàng hoá và dịch vụ công cộng này sẽ tăng phúc lợi lên đáng kể. ở đây, phúc lợi công cộng cũng tức là tăng mức độ công bằng. Đối với những nước chậm phát triển doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ, phân tán, thì DNNN có vai trò quyết định đối với việc sản xuất hàng công cộng. Tuy nhiên các DNNN sẽ thực hiện sự phát huy mạnh hơn vai trò của chúng khi hiệu quả SXKD ngày càng được nâng cao, nhất là trong môi trường kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

Đặc điểm hoạt động và yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN trong nền kinh tế nước ta hiện nay. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước. Thứ nhất: DNNN phải hướng tới rất nhiều mục tiêu thiếu rõ ràng, đôi khi mâu thuẫn nhau, chẳng hạn mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ