Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Thế giới Geyer và cộng sự (2011) đã tiến hành trên 487 bệnh phẩm thu thập từ 12 phòng thí nghiệm ở vùng Tây Nam nước Anh để nghiên cứu phân lập vi sinh vật. Kết quả thu được là các loài Pseudomonas (36%), tụ cầu khuẩn (21%), liên cầu khuẩn (15%) và nấm (11%) [30].
Heward và cộng sự (2018) phân tích 302 mẫu bệnh phẩm được lấy từ 217 bệnh nhân (100 nam, 117 nữ), từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 đến ngày 30 tháng 3 năm 2016, tại phòng khám tai mũi họng trường đại học South Manchester nước Anh với 315 sinh vật đã được phân lập, thường xuyên nhất là Pseudomonas aeruginosa (31,1%), tiếp theo là các loài Candida (22,9%) và Staphylococcus aureus (11,7%). Ngoài ra tỉ lệ kháng Gentamycin đang ngày càng tăng lên và kháng sinh nhóm Quinolone vẫn là kháng sinh chủ yếu trong điều trị P. Tỉ lệ nhạy cảm với Gentamycin và Ciprofloxacin của P. aeruginosa lần lượt là 78,4% và 97,7% [34].
Tang Ho và cộng sự (2006) nghiên cứu hồi cứu 132 bệnh nhân chẩn đoán nấm tai tại Houston, Texas (Mỹ) từ năm 1998 đến năm 2004. Tác giả ghi nhận triệu chứng đau tai và chảy tai gặp nhiều nhất (tỷ lệ 48%) và hơn 80% trường hợp khỏi bệnh với liệu trình điều trị Ketoconazole bôi ống tai [35]. Roland và công sự (2002) tiến hành đánh giá vi sinh vật trong viêm tai ngoài cấp tính ở 2039 bệnh nhân với 2240 bệnh phẩm trên khắp nước Mỹ trong giai đoạn từ tháng 5 năm 1998 đến tháng 11 năm 2000. Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn thường gặp nhất chịu trách nhiệm đối với nhiễm trùng.
Staphylococcus là những tác nhân gây bệnh phổ biến nhất tiếp theo. Nấm chịu 4 trách nhiệm chỉ 1,7% các trường hợp, nhưng có thể được nổi bật hơn trong các trường hợp nhiễm trùng dai dẳng hay giai đoạn mãn tính [58]. Kaur và cộng sự (2000) tiến hành nghiên cứu trên 95 bệnh nhân chẩn đoán nấm tai tại Khoa Tai Mũi Họng, bệnh viện Lok Nayak và Khoa Vi sinh, bệnh viện Trường Y khoa Maulana Azad, New Delhi (Ấn Độ). Nghiên cứu cho kết quả 74,7% cấy nấm dương tính, trong đó A.niger 36,9% và Candida albicans 8,2% [39].
William và cộng sự (1997) nghiên cứu về dữ liệu vi sinh vật và lâm sàng trên 26 bệnh nhân được chẩn đoán viêm ống tai ngoài từ tháng 6 năm 1991 đến tháng 6 năm 1992 tại phòng khám Tai - Mũi - Họng bệnh viện Naval tại Bethesda, Maryland. Mẫu vật được tiến hành phân lập vi khuẩn ái khí và kị khí. Sự phát triển của vi khuẩn được ghi nhận ở 23 mẫu bệnh phẩm. Vi khuẩn ái khí được phân lập ở 21 bệnh nhân (91%), vi khuẩn kị khí hiện diện ở 1 bệnh nhân (4%), 1 bệnh nhân (4%) phân lập được cả vi khuẩn ái khí và kị khí.
Chin và cộng sự (1982) nghiên cứu xét nghiệm tìm nấm trên 130 mẫu bệnh phẩm là ráy tai và vảy tai nghi ngờnhiễm nấm tại Học viện Y khoa, Kuala Lampur, Malaysia. Tỉ lệ cấy nấm dương tính là 74,6%, trong đó Aspergillus chiếm tỉ lệ 78,4%, Candida chiếm tỉ lệ 25,8% [22]. Việt Nam Cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu về viêm ống tai ngoài tại Việt Nam. Một số công trình nghiên cứu bệnh viêm tai ngoài đã thực hiện là: Lê Chí Thông và cộng sự (2010) với công trình “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nấm tai tại Huế” với kết quả: Aspergillus là nguyên nhân chủ yếu (82,4%), Candida (9,8%).
Tỉ lệ nấm Aspergillus đề kháng với Clotrimazole là 4,8% và Candida nhạy cảm với nhiều loại thuốc kháng nấm [18]. 5 Lê Thị Tuyết và cộng sự (2007) nghiên cứu “Tình hình nhiễm nấm ở những bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài đến xét nghiệm tại Phòng Ký sinh trùng - Bệnh viện Đại học Y Thái Bình” đã đưa ra một số nhận xét: Có 78,6% bệnh nhân tìm thấy nấm, trong đó nhiễm nấm Aspergillus chiếm phổ biến (66,7%), Candida (11,1%). Bệnh gặp nhiều ở người trên 16 tuổi (97%) và chủ yếu sống ở nông thôn (84,8%) [19]. Nguyễn Sanh (2001) nghiên cứu “Tình hình nhiễm vi nấm tai trên bệnh nhân đã phẫu thuật tai” tại Trung tâm Tai Mũi Họng, thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả ghi nhận nhiễm vi nấm ống tai ngoài và hố sau mổ trên những 58 bệnh nhân đã được phẫu thuật tai là một tình trạng bệnh lý thường gặp, có 62,07% trường hợp phân lập được vi nấm ở ống tai và hố sau mổ tai. Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm tai là Aspergillus (83,33%) và Candida (13,89%). Nghiên cứu cho thấy đa số các trường hợp đáp ứng tốt với điều trị thuốc kháng nấm tại chỗ và các thuốc này phải được sử dụng tiếp tục 2 tuần sau khi hết các triệu chứng lâm sàng để đảm bảo diệt sạch tất cả các vi nấm, tránh tái phát sau này [14]. Qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy viêm ống tai ngoài là bệnh khá phổ biến.
SỰ HÌNH THÀNH CÁC CẤU TRÚC CỦA ỐNG TAI NGOÀI Ống tai ngoài phát triển từ khe mang thứ nhất. Trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành, vào tháng thứ hai, các tế bào thượng bì ở đầu trong của ống tai ngoài tạo nên một khối mô ngoại bì đặc được gọi là mô nút ống tai ngoài. Vào khoảng tuần thứ 21, mô nút này tiêu đi và hình thành nên đoạn trong của ống tai ngoài. Tai giữa và TK mặt sẽ phát triển sau và từ từ đi vào đúng vị trí giải phẫu của chúng [25].
Trong phôi thai học, phân loại Carnegie là một hệ thống tiêu chuẩn hóa của 23 giai đoạn được sử dụng để mô tả sự phát triển thống nhất của phôi động vật có xương sống. Một hố nông đầu tiên xuất hiện ở bên ngoài đầu phôi 6 thai ở giai đoạn 16 theo phân loại của Carnegie, hình thành nên ống tai ngoài nguyên thủy, và các tế bào biểu mô mới xuất hiện ở đầu trung gian của hố này sẽ tạm thời tiếp xúc với các tế bào nội bì của túi họng đầu tiên. Sau đó, trong quá trình phát triển phần đầu, tế bào trung bì phát triển ở giữa tách hai lớp biểu mô này. Tiếp theo là mở rộng đường kính trong của hố cạn để tạo thành một ống tròn tương ứng với kích thước đầu.
Đến giai đoạn 19, tường biểu mô của ống tai ngoài nguyên thủy vẫn là lớp biểu bì mỏng. Ở giai đoạn 22, phần đáy của ống tai ngoài sâu lại, và bị tắc nghẽn bởi một khối mô nguồn gốc từ trung mô phôi. Từ giai đoạn 22, ống tai phát triền vào trong không theo một đường thẳng và không còn tròn theo mặt phẳng ngang. Sự phát triển của ống tai ngoài trong giai đoạn phôi thai có vẻ đơn giản so với các cơ quan khác; tuy nhiên, trong giai đoạn trung gian giữa giai đoạn thai và phôi thì sự phát triển được tăng tốc rõ rệt và phức tạp hơn.
Các tế bào thượng bì hình thành nên da ống tai ngoài cho thấy sự gia tăng rõ rệt để lấp đầy hoàn toàn không gian, tạo thành các nút thịt biểu mô. Sự tạo thành chung của ống tai ngoài giống như một chiếc ủng có đế mỏng. Phía sau của cái ủng là phần phôi của cán xương búa, và các bờ của chiếc ủng có tiếp xúc với rãnh của khung nhĩ, đó là khu vực của màng nhĩ tương lai. Trong thai nhi tuần thứ 10, phần đế ủng phát triển theo kiểu hình đĩa với phần cổ hẹp, và phần bên của nút thịt tạo thành một hình trụ rỗng lỗ.
Trong thai nhi 13 tuần, phần đế ủng tiếp tục kéo dài và lan rộng vào trung mô và một số tế bào bắt đầu cho thấy quá trình sừng hóa, có nghĩa là sự xuất hiện của tế bào chết. Do đó, đế của nút thịt chia thành hai lớp: Lớp biểu mô bên ngoài của màng nhĩ tương lai và lớp biểu mô thứ cấp của thành ống tai ngoài. Trong tuần thứ 15 thai nhi, quá trình phân tách này rõ ràng nhất ở phần trung tâm, nơi mà nút thịt tiếp xúc với lớp tế bào nội mô của hố tai giữa. Trong khoảng tuần 16,5 của thai nhi, phần cổ hẹp của khối thịt bắt đầu mở rộng và việc chia tách của nút thịt được hoàn tất trong toàn bộ chiều dài của ống tai ngoài, mặc dù phần ống này còn hẹp và bị vặn xoắn.
Trong 7 khu vực tương ứng với mầm nguyên thủy của các tuyến ráy tai, phần cổ hẹp sẽ làm lộ ra ranh giới giữa phần ống sơ cấp và thứ cấp, và là phần cuối cùng để phân chia. Trong thai nhi 18 tuần, ống tai ngoài đạt hình thái hoàn chỉnh và gần như là một ống thẳng, và trong thai nhi 21 tuần, màng nhĩ được phát triển hoàn toàn [51]. GIẢI PHẪU ỐNG TAI NGOÀI 1. Vị trí của ống tai ngoài trên cơ thể Tai ngoài gồm có vành tai nằm lộ ra ở hai bên đầu và ống tai ngoài từ vành tai đến màng nhĩ [13], [16].
Ống tai ngoài đi từ xoắn tai đến màng nhĩ. Do màng nhĩ nằm chếch xuống dưới và vào trong nên thành trên sau ống tai dài khoảng 25 mm, trong khi thành trước dưới dài khoảng 31 mm. Thiết diện ngang của ống tai hình bầu dục, dẹp theo chiều trước sau [13]. Nhìn chung, ống tai ngoài đi từ ngoài vào theo hướng từ trước xuống dưới thành một đường cong hình chữ S, ở gần vành tai nó cong lồi ra trước và đến màng nhĩ thì cong lõm ra trước, chúng tạo ra một chỗ rất hẹp của ống tai, được gọi là khuỷu.
Vì vậy, ở người trưởng thành, khi soi tai muốn nhìn thấy màng nhĩ phải kéo vành tai lên trên và ra sau để làm bớt đi độ cong này. Liên quan - Thành trước: Liên quan với hố hàm ở phía trong và một phần tuyến mang tai ở phía ngoài. Vì vậy, một chấn thương vào cằm có thể làm cho lồi cầu xương hàm dưới trật ra sau và làm vỡ thành trước ống tai và ngược lại, một nhiễm trùng ở ống tai ngoài có thể lan đến tuyến mang tai [13], [16]. - Thành dưới: Liên quan đến tuyến mang tai.
- Thành trên: Cách ngách thượng nhĩ và tầng giữa của sọ bởi một mảnh của xương thái dương. - Thành sau: Cách xoang chũm bằng một lớp xương mỏng [13]. Hình thể ống tai ngoài [12] (1) Ống tai ngoài (2) Màng nhĩ (3) Xương con.Cấu tạo Ống tai là được cấu tạo bởi sụn, xương và da. Một phần ba ngoài ống tai được cấu tạo bởi sụn (sụn chun và sụn xơ), sụn này liên tiếp với sụn vành tai.
Ở thành trước sụn có hai khuyết sụn ống tai làm cho vành tai dễ di động và giúp dễ dàng nong rộng ống tai ngoài.