CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “TALK FOR WRITNG” TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 3 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Khái niệm về phương pháp “Talk For Writing” “Talk For Writing” là một phương pháp dù đã khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, nhưng với Việt Nam, đây vẫn là một phương pháp mới mẻ và chưa nhận được nhiều sự quan tâm tìm hiểu. Vì vậy, các công trình nghiên cứu về phương pháp này chủ yếu được viết bằng tiếng Anh.
Trên trang https://dsf.au/ định nghĩa về phương pháp này như sau: "Talk For Writing is a unique process that uses spoken activities to develop writing skills. Quality writing is created by first expanding and developing students’ oral language skills and then teaching the necessary steps for exceptional sentence, paragraph and text construction." (Talk for Writing là một quá trình độc đáo sử dụng các hoạt động nói để phát triển kỹ năng viết. Chất lượng văn bản được tạo ra bằng cách mở rộng và phát triển kỹ năng ngôn ngữ nói của HS trước tiên, sau đó dạy các bước cần thiết để xây dựng câu, đoạn và các thể loại văn bản). “Talk For Writing” là một khung giảng dạy hấp dẫn được phát triển bởi Pie Corbett, một nhà đào tạo sư phạm, nhà văn, tác giả và nhà thơ.
Ông đã xuất bản hàng trăm đầu sách, trong đó phải kể đến cuốn Kể chuyện sáng tạo (Creating storyteller and Writers) và Khởi động với đọc hiểu (Jumpstart! Literacy). Ông cũng như khá nổi tiếng trong việc phát triển các phương pháp sáng tạo trong dạy học. Ông cũng từng là GV và quản lý ở nhiều bậc học khác nhau. Và có thể nói Pie nổi tiếng nhất trong lĩnh vực sư phạm với việc phát triển phương pháp “Talk For Writing”.
Ông là đồng tác giả của nhiều cuốn 9 sách nổi tiếng như “Talk For Writing” ở mầm non (Talk For Writing in the Early Years); Khởi động với ngữ pháp (Jumpstart! Grammar); Kể chuyện sáng tạo và nhà văn (Creating Storytellers and Writers); “Talk For Writing” theo chương trình (Talk for Writing Across the Curriculum);. Phương pháp này đặc biệt giúp trẻ em trở thành vừa là một độc giả thực thụ vừa là một nhà văn đầy sáng tạo. Bằng phương pháp giảng dạy tương tác và đa giác quan, vừa nói vừa viết, nó cho phép người học có kỹ năng viết được nhiều loại văn bản ở nhiều thể loại và hình thức khác nhau như: - Nghe và nhớ các câu chuyện/ thơ - Tham gia đóng kịch và nhập vai - Vẽ sơ đồ truyện - Huy động vốn từ vựng và cách diễn đạt - Xây dựng các cấu trúc ngữ pháp Với các hình thức đa dạng như vậy, HS có thể trở thành những nhà văn thực sự và việc viết trở thành một cuộc phiêu lưu đầy thú vị và bất ngờ, thay vì chúng chỉ viết theo khuôn mẫu theo yêu cầu của GV. Hiện nay, phương pháp “Talk For Writing” được vận dụng khá phổ biến ở các trường tiểu học ở Vương quốc Anh cũng như nhiều trường quốc tế tại các quốc gia không nói tiếng Anh.
Phương pháp này ngày càng trở nên phát triển mạnh mẽ bởi vì nó dựa trên các nguyên tắc về cách trẻ em học. Phương pháp này gồm 3 giai đoạn. Đầu tiên từ “Mô phỏng” sau đó đến “Sáng tạo” và cuối cùng là “Ứng dụng độc lập”. Nó có thể điều chỉnh để phù hợp với nhiều lứa tuổi.
Ông đã từng nói rằng: “Unsurprisingly, the best writers in any class are always readers. Reading influences writing- the richness, depth and breadth of reading determines the writer that we become.” (Không có gì ngạc nhiên khi những nhà văn giỏi nhất trong bất kỳ tầng lớp nào luôn là độc giả. Đọc ảnh hưởng đến việc viết - sự phong phú, 10 chiều sâu và chiều rộng của việc đọc quyết định nhà văn mà chúng ta trở thành). Với các tài liệu về tiếng Việt, chúng tôi khảo sát được một bài báo trên trang Vnexpress có đưa tin về phương pháp này với tiêu đề: “Phương Pháp Talk For Writing giúp trẻ sử dụng tiếng Anh như người bản ngữ”.
Trong bài viết này, tác giả cung cấp một số thông tin cơ bản về bản chất đặc trưng của phương pháp và chia sẻ rằng trường Quốc tế Anh Hà Nội được coi là một trong những trường tiên phong áp dụng phương pháp này vào dạy học ngôn ngữ. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phương pháp đối với môn tiếng Anh, chứ chưa nhắc đến hiệu quả vận dụng với môn Tiếng Việt, cụ thể là môn Tiếng Việt lớp 3. Ngoài bài báo trên thì theo khảo sát và thống kê của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu hay bài viết nào khác bằng tiếng Việt tập trung khai thác đề tài này. Có thể thấy rằng, đây vẫn còn là một phương pháp mới mẻ, xa lạ với hầu hết GV và những nhà nghiên cứu giáo dục tại Việt Nam.
Vì vậy, với công trình này chúng tôi hi vọng có thể đóng góp thêm một góc nhìn rộng mở và cụ thể hơn về việc vận dụng phương pháp “Talk For Writing” vào dạy học môn Tiếng Việt lớp 3. Bản chất của phương pháp “Talk For Writing” Phương pháp này bắt nguồn từ nhu cầu đến cả từ phía HS và GV. HS gặp khó khăn trong việc tạo ra một câu văn hoàn chỉnh, cần một công cụ hoặc giai đoạn trung gian phù hợp. Bản chất của phương pháp này ứng dụng theo ba bước, dựa trên chính bản năng học và tiếp thu của HS: Mô phỏng (Imitation), Sáng tạo (Innovation) và Ứng dụng độc lập (Independent application).
Đây là phương pháp giúp HS có thể đọc và viết một cách độc lập tự chủ trong nhiều môn học khác nhau. Một trong những đặc trưng của phương pháp này đó là các em sẽ được thụ đắc các cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ thông qua việc 11 đọc một văn bản. Bởi vì nó sẽ đi từ cách thụ động sang chủ động, người học chuyển từ việc bắt chước một cách thụ động sang việc sáng tạo chủ động. Xét về bản chất, ba bước của phương pháp này chính là cách tái hiện lại quá trình của việc viết mà ở đó, hai giai đoạn đầu chính là điểm đặc trưng độc đáo của phương pháp.
Còn ở giai đoạn cuối “Ứng dụng độc lập” thực chất là một hoạt động vốn đã rất quen thuộc và phổ biến trong quá trình dạy học ở cấp tiểu học đó là Viết sáng tạo. Trước tiên là Mô phỏng (Imitation). Các em HS được nghe GV đọc diễn cảm sau đó sẽ đồng thanh đọc lại. Ở giai đoạn này, kỹ năng đơn giản chỉ dừng lại ở việc bắt chước từ GV.
GV sẽ kể cho cả lớp câu chuyện hoặc đọc một văn bản trong sách. HS có thể lắng nghe và bước đầu nhớ hoặc không về một số chi tiết, nhân vật, sự kiện trong văn bản đó. Điều này không quá quan trọng. Bởi vì mục tiêu chính của giai đoạn này là giúp các em thu nhận được mẫu gốc nguyên bản của văn bản bằng cách nghe và biết đến các từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, văn phong.
Sau khi lắng nghe HS cần kể lại câu chuyện hay văn bản đó bằng cách kể của chính mình qua hai hoạt động chính là vẽ sơ đồ (story mapping) và đọc/ kể diễn cảm kết hợp với làm các động tác minh họa mô phỏng. Giai đoạn này giúp người học rèn luyện các cấu trúc câu cơ bản cũng như học cách xây dựng kế hoạch, sơ đồ, dàn ý cho câu chuyện. Sơ đồ truyện (Story maps) bao gồm một loạt hình ảnh mô tả trình tự các sự kiện diễn ra trong câu chuyện kèm theo những dấu câu và từ khóa trong bài. HS không cần ghi ra tất cả từ vựng hay cả một câu văn dài đầy đủ ngữ pháp.
Thay vào đó, các em có thể sử dụng kỹ năng vẽ để thể hiện ý tưởng, mô tả hình ảnh, sự kiện, nhân vật. Tuỳ theo trình độ và nội dung chương trình học của từng lớp học cụ thể mà GV có thể yêu cầu HS bổ sung thêm thông tin nào trong sơ đồ câu chuyện đó. Có thể là chèn thêm các dấu câu, có thể viết ra một số tính từ, động từ quan trọng với mục đích để ôn tập và khắc sâu kiến thức cũ. Bởi vì so với việc viết ra một câu văn dài trọn vẹn ý 12 nghĩa thì việc vẽ thể hiện ý sẽ sinh động và trực quan hơn đặc biệt là cũng dễ dàng hơn đối với các em.
Trong quá trình vẽ sơ đồ này, HS cũng đồng thời được học về cách mà nhà văn đã xây dựng ra bối cảnh và nhân vật như thế nào. Nếu chỉ dừng lại ở việc lắng nghe và kể lại theo trí nhớ, các em sẽ tiếp thu câu chuyện một cách thụ động và máy móc. Đồng thời các em cũng không có cơ hội đào sâu tìm hiểu xem làm thế nào mà tác giả đã viết được ra câu chuyện đó, tác giả đã sử dụng nhưng công cụ, kỹ thuật gì để viết nên câu chuyện. Còn khi áp dụng hoạt động vẽ sơ đồ truyện trong phương pháp “Talk For Writing”, HS dễ dàng bóc tách từng câu chữ, sự kiện để cụ thể hóa nó bằng hình ảnh.
Trong quá trình cụ thể hóa này, vô hình chung các em đang thực hiện việc tìm hiểu cách nhà văn xây dựng để câu chuyện trở nên thú vị và độc đáo. HS được vẽ ra hình ảnh thay cho ngôn từ để hoàn thành một câu văn trong truyện. Nghĩa là lúc đó các em đã được học cách sử dụng các loại câu khác nhau để thực hiện mục đích nói. Trong hoạt động “mô phỏng” GV cho HS lắng nghe câu chuyện để sau đó các em có thể nhắc đi nhắc lại các sự kiện, chi tiết trong câu chuyện đó và kể lại.
Việc lặp lại với tần suất cao, thường xuyên sẽ giúp HS tiếp thu từ vựng một cách thụ động và có thể sử dụng chúng. Sau khi vẽ ra sơ đồ dựa trên trí tưởng tượng và trí nhớ của mình, HS bắt đầu thực hiện các hoạt động đó là nhìn vào sơ đồ để kể lại truyện kết hợp với làm động tác mô phỏng minh họa. Lúc này, phương pháp tập trung vào phát triển kỹ năng nói. Bởi vì ngôn ngữ nói là nền tảng để hình thành ngôn ngữ viết.
Khi xây dựng và hoàn thiện ngôn ngữ nói, người học sẽ có một phông nền nhất định để hình thành ngôn ngữ viết. Thậm chí, theo một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ngôn ngữ nói hơn cả ngôn ngữ viết. Và họ chú trọng vào việc ưu tiên phát triển vốn từ vựng cho trẻ trước tiên.