Luận văn: Vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong thực hiện dân chủ cơ sở Quận 1

Tài liệu nghiên cứu Luận văn vai trò của mặt trận tổ quốc việt nam trong thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở từ thực, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò MTTQ trong thực hiện dân chủ cơ sở

Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực thi pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Dân chủ cơ sở được hiểu là quyền làm chủ trực tiếp của người dân tại xã, phường, thị trấn, nơi diễn ra các mối quan hệ xã hội đa dạng và trực tiếp nhất. Việc thực hiện dân chủ cơ sở là một quá trình có mục đích, nhằm đưa các quy định của pháp luật vào đời sống, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nền tảng pháp lý cho vai trò này được quy định rõ trong Hiến pháp 2013 và cụ thể hóa qua Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 cũng như các văn bản dưới luật như Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11. Theo đó, MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, có vai trò cốt lõi trong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân. Vai trò này thể hiện qua các chức năng chính: tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội; và tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Việc tổ chức thực hiện các chức năng này đòi hỏi một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, trong đó Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Quận 1 là một mắt xích quan trọng, trực tiếp triển khai các hoạt động tại địa bàn. Các hoạt động này không chỉ giúp đảm bảo quyền lợi của người dân mà còn góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị cơ sở, phòng chống quan liêu, tham nhũng, và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

1.1. Phân tích cơ sở pháp lý về dân chủ ở cơ sở

Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện dân chủ ở cơ sở được xây dựng dựa trên Hiến pháp 2013, khẳng định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Các quyền này được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật, nổi bật là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Văn bản này quy định rõ 4 nội dung cốt lõi theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”: những nội dung cần công khai để dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cấp có thẩm quyền quyết định; và những nội dung nhân dân giám sát. Để hướng dẫn thi hành, Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN đã được ban hành, làm rõ vai trò của Mặt trận trong việc tổ chức các hoạt động này. Sau này, Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 ra đời đã kế thừa và phát triển các quy định này, nâng cao hơn nữa giá trị pháp lý và hiệu quả thực thi.

1.2. Chức năng cốt lõi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Theo Điều 9 Hiến pháp 2013 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015, MTTQ Việt Nam có các chức năng, nhiệm vụ trọng tâm. Thứ nhất, tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ và tăng cường đồng thuận xã hội. Thứ hai, tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thứ ba, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Thứ tư, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Thứ năm, thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Cuối cùng, tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh với Đảng, Nhà nước. Các chức năng này tạo thành một cơ chế toàn diện để Mặt trận thực hiện vai trò cầu nối giữa Đảng, chính quyền và nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân được thực thi một cách hiệu quả nhất.

II. Thực trạng vai trò MTTQ Quận 1 trong dân chủ cơ sở

Nghiên cứu thực tiễn tại Quận 1 cho thấy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng cũng đối mặt không ít thách thức. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Quận 1 đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng và ban hành các kế hoạch thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở hàng năm. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh qua nhiều hình thức, giúp nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân. Tuy nhiên, thực trạng và giải pháp cho thấy vẫn còn những hạn chế. Hoạt động giám sát đôi khi còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu. Công tác phản biện xã hội đối với các dự thảo chính sách quan trọng chưa thực sự phát huy hết tiềm năng, một phần do năng lực của đội ngũ cán bộ Mặt trận ở cơ sở còn hạn chế. Sự phối hợp giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên với các cơ quan chính quyền chưa thực sự đồng bộ. Nhiều kiến nghị sau giám sát chưa được các cơ quan chức năng quan tâm giải quyết triệt để và phản hồi kịp thời. Đây là những thách thức đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu phát huy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội Quận 1 ảnh hưởng đến MTTQ

Quận 1 là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh, với mật độ dân số cao và cơ cấu xã hội đa dạng. Đây là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp, cơ quan Trung ương, Lãnh sự quán, thu hút lượng lớn du khách và người lao động. Đặc điểm này tạo ra cả thuận lợi và khó khăn cho hoạt động của MTTQ Việt Nam Quận 1. Thuận lợi là trình độ dân trí cao, người dân có ý thức chính trị và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. Khó khăn là các vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh như quản lý đô thị, trật tự an toàn xã hội, môi trường... đòi hỏi vai trò của Mặt trận phải linh hoạt, nhạy bén và hiệu quả hơn trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải quyết các mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư.

2.2. Các hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện

Bên cạnh những kết quả đạt được, vai trò của Mặt trận trong thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Quận 1 vẫn còn một số hạn chế. Hoạt động giám sát chưa thực sự bài bản, đôi khi dàn trải, thiếu trọng tâm. Một số kiến nghị của Mặt trận chưa được chính quyền xem xét, giải quyết thỏa đáng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc cơ chế phối hợp chưa chặt chẽ; năng lực của một bộ phận cán bộ Mặt trận, đặc biệt ở cấp phường và khu phố, còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu. Bên cạnh đó, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận chưa đầy đủ, dẫn đến sự phối hợp thiếu chủ động. Việc nâng cao hiệu quả đòi hỏi phải khắc phục đồng bộ các nguyên nhân này.

III. Cách MTTQ giám sát phản biện để thực hiện dân chủ cơ sở

Hoạt động giám sát và phản biện xã hội là một trong những phương thức trọng tâm để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện vai trò của mình trong dân chủ ở cơ sở. Tại Quận 1, công tác này được triển khai đồng bộ thông qua nhiều kênh. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Quận 1 phối hợp với HĐND và UBND quận xây dựng kế hoạch giám sát hàng năm, tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, được dư luận quan tâm như quản lý đất đai, xây dựng, thu chi ngân sách, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các hình thức giám sát rất đa dạng, từ giám sát chuyên đề, giám sát thường xuyên đến việc thành lập các đoàn giám sát liên ngành. Một công cụ hiệu quả là phát huy vai trò của Ban thanh tra nhân dânBan giám sát đầu tư của cộng đồng. Các tổ chức này ở 10 phường đã thực hiện hàng chục cuộc giám sát đối với các công trình, dự án sử dụng vốn ngân sách hoặc có sự đóng góp của người dân, qua đó kiến nghị khắc phục nhiều bất cập về chất lượng công trình và minh bạch tài chính. Công tác phản biện xã hội cũng được chú trọng, Mặt trận đã tổ chức nhiều hội nghị lấy ý kiến nhân dân, chuyên gia đối với các dự thảo đề án lớn của quận như Đề án quản lý vỉa hè, Phố đi bộ Bùi Viện. Các ý kiến phản biện sắc sảo, có trách nhiệm đã được chính quyền tiếp thu, góp phần hoàn thiện chính sách, đảm bảo tính khả thi và hợp lòng dân.

3.1. Hiệu quả từ Ban thanh tra nhân dân Ban giám sát đầu tư

Ban thanh tra nhân dânBan giám sát đầu tư của cộng đồng là hai thiết chế quan trọng, thể hiện quyền giám sát trực tiếp của người dân. Tại Quận 1, 10 Ban thanh tra nhân dân và 42 Ban giám sát đầu tư cộng đồng hoạt động khá hiệu quả. Các ban này đã giám sát nhiều công trình cải tạo hẻm, nâng cấp vỉa hè, các dự án phúc lợi công cộng... Qua giám sát, đã phát hiện và kiến nghị xử lý các vấn đề như thi công không đảm bảo chất lượng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Hoạt động này góp phần đảm bảo các công trình đầu tư công được thực hiện minh bạch, hiệu quả, đúng quy định, ngăn ngừa tiêu cực, lãng phí và củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền địa phương.

3.2. Quy trình giám sát thực thi chính sách tại địa phương

Quy trình giám sát của MTTQ Việt Nam Quận 1 được thực hiện bài bản. Hàng năm, trên cơ sở các vấn đề bức xúc của người dân và chương trình làm việc của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận xây dựng kế hoạch giám sát chi tiết, xác định rõ nội dung, đối tượng, thời gian và thành phần đoàn giám sát. Trước khi giám sát, Mặt trận thu thập thông tin, tài liệu liên quan. Trong quá trình giám sát, đoàn làm việc trực tiếp với đơn vị được giám sát, lắng nghe báo cáo và kiểm tra thực tế. Kết thúc giám sát, một văn bản kiến nghị cụ thể được gửi đến cơ quan có thẩm quyền. Mặt trận cũng theo dõi, đôn đốc việc giải quyết và trả lời các kiến nghị đó, đảm bảo việc giám sát mang lại kết quả thực chất.

IV. Phương pháp MTTQ Quận 1 tham gia xây dựng chính quyền

Việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thể hiện rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị cơ sở. Tại Quận 1, phương pháp này được thực hiện đa dạng và ngày càng thực chất. Một trong những phương pháp hiệu quả nhất là tổ chức thực hiện pháp luật thông qua việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND các cấp, đảm bảo lựa chọn được những đại biểu đủ đức, đủ tài. Mặt trận cũng phối hợp tổ chức các hội nghị tiếp xúc cử tri định kỳ và đột xuất, tạo diễn đàn để người dân đối thoại với nhân dân và đại biểu dân cử. Qua các cuộc tiếp xúc này, hàng ngàn ý kiến, kiến nghị của cử tri đã được tổng hợp, chuyển đến các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết. Đặc biệt, hoạt động lấy ý kiến góp ý vào các dự thảo luật, các văn kiện Đại hội Đảng, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đã huy động được trí tuệ và tâm huyết của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Mặt trận Quận 1 cũng phát huy tốt vai trò giám sát cán bộ, công chức, đảng viên tại nơi cư trú, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, gần dân, sát dân. Những hoạt động này không chỉ giúp chính quyền ra quyết định đúng đắn, phù hợp với thực tiễn mà còn tăng cường sự đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

4.1. Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa chính quyền và nhân dân

Hoạt động đối thoại với nhân dân do Mặt trận phối hợp tổ chức là một điểm sáng trong thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Quận 1. Các buổi đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân được tổ chức định kỳ, tập trung vào những vấn đề nóng, bức xúc như quản lý đất đai, trật tự xây dựng, chính sách đền bù giải tỏa. Thông qua đối thoại, nhiều vướng mắc đã được tháo gỡ kịp thời, các ý kiến của người dân được lãnh đạo lắng nghe, giải đáp trực tiếp, tạo không khí dân chủ, cởi mở. Hoạt động này giúp giảm thiểu đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp, củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận trong việc triển khai các dự án lớn trên địa bàn.

4.2. Tập hợp ý kiến cử tri và góp ý các dự thảo văn bản

Mặt trận Quận 1 đã thực hiện tốt vai trò tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri. Giai đoạn 2016-2021, Mặt trận đã phối hợp tổ chức 778 cuộc tiếp xúc cử tri, ghi nhận 1.120 ý kiến. Các ý kiến này được phân loại, tổng hợp và kiến nghị kịp thời đến HĐND và UBND các cấp. Ngoài ra, việc tổ chức lấy ý kiến góp ý cho các dự thảo luật, đặc biệt là các văn kiện Đại hội Đảng các cấp, được triển khai sâu rộng đến các khu dân cư, các tổ chức thành viên, thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân. Đây là kênh quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia vào quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ 1.1 Nhận thức về dân chủ, dân chủ cơ sở trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân 1. Khái niệm dân chủ, dân chủ cơ sở a. Khái niệm dân chủ có nội hàm phong phú, phạm vi hiểu khác nhau: Dân chủ là dân làm chủ, dân là gốc của quyền lực nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất phát từ ý chí, ý nguyện của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng dân chủ tiên tiến và đã áp dụng thành công ở Việt Nam.

Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6, NXB CTQG, H,2000, tr. Dân chủ là “hình thức tổ chức thiết chế chính trị xã hội dựa trên việc thừa nhận Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế nhất định (Từ điển bách khoa Việt Nam.

Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995, tr. 653) Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định. Là hình thức tổ chức chính trị của Nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, như vậy dân chủ là một phạm trù lịch sử, cũng như các biểu hiện khác của hình thái ý thức xã hội, dân chủ do tồn tại xã hội quyết định, do phương thức sản xuất vật chất của xã hội quyết định và do đó, trình độ của phương thức sản xuất khác nhau tất yếu dẫn đến sự khác nhau về trình độ dân chủ.

Dân chủ biến đổi và phát triển không ngừng cả về chất và lượng trong từng giai đoạn phát triển của 7 lịch sử xã hội loài người (Thạc sĩ Hoàng Văn Nghĩa - Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Dân chủ là một phương pháp ra quyết định tập thể trong đó mọi thành viên đều có quyền ngang nhau khi tham gia ra quyết định. Dân chủ cũng để chỉ một hình thức nhà nước, trong đó mọi thành viên đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình, thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện trong quốc hội hoặc thể chế tương tự (Giáo sư Larry Diamond - Ngành Khoa học chính trị và Xã hội học Đại học Stanford). Như vậy, có thể hiểu một cách bản chất, cô đọng dân chủ là quyền làm chủ của Nhân dân, quyền quyết định của Nhân dân trong một chế độ xã hội đang thực hiện chủ yếu thông qua Nhà nước và hệ thống chính trị.

Dân chủ ở cơ sở Bất cứ một tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng bao gồm hệ thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn. Những cấu trúc nhỏ nhất trong một hệ thống có tư cách như một chính thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn bộ hệ thống được gọi là cơ sở. Cơ sở là “tế bào” của hệ thống. Bất cứ một công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống.

Đó chính là xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở…. nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp Nhân dân. Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được tổ chức thành 4 cấp: trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn (cơ sở) là cấp cuối cùng. Vai trò của dân chủ, dân chủ cơ sở trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân Vai trò của dân chủ trong các tổ chức Nhà nước có nhiều chuyển biến, tiến bộ.

Quốc hội có những đổi mới quan trọng, từ bầu cử đại biểu Quốc hội đến hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, làm tốt hơn chức năng lập pháp, công tác giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. 8 Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ, hiệu quả. Để nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật, Quốc hội đã có nhiều hình thức để lấy ý kiến góp ý, như tổ chức hội thảo, tọa đàm, phát phiếu… Trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội đều tổ chức tiếp xúc cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri cả nước. Sau tiếp xúc đều thực hiện công tác tổng hợp, phân tích những kiến nghị xác đáng để yêu cầu Chính phủ chỉ đạo giải quyết theo thẩm quyền.

Nhiều khóa gần đây, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân thật sự sôi nổi, dân chủ, phát huy được trách nhiệm của đại biểu, được Nhân dân cả nước ghi nhận. Định kỳ, Quốc hội, Hội đồng nhân dân tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín. Để phát huy tính dân chủ, Chính phủ tiếp tục có những đổi mới trong hoạch định chính sách, quản lý vĩ mô, chỉ đạo điều hành để các đơn vị triển khai, tổ chức thực hiện. Ý thức, trách nhiệm thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật được đánh giá cao.

Đặc biệt, chính quyền các cấp đã có nhiều tiến bộ trong tổ chức tiếp dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Đối với công tác tổ chức cán bộ diện quản lý theo phân cấp của Đảng đều được tập thể ban cán sự Đảng thảo luận dân chủ, bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số. Các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều tạo điều kiện và phát huy chức năng tuyên truyền, định hướng dư luận của các phương tiện truyền thông, như báo viết, báo nói, báo hình, báo mạng… Xác định dân chủ là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước, vì thế phải khẳng định việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hoàn thiện hệ thống pháp luật… là quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì ở nước ta: “Chính quyền là của Nhân dân, do Nhân dân làm chủ… Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền.

Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. Nội dung cốt lõi của dân chủ bao 9 gồm các nội dung căn bản: Nền dân chủ của Nhân dân lao động, vì Nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc của Nhân dân; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân; có nội dung toàn diện, thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ý thức - tư tưởng, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng, ngày càng rộng rãi của Nhân dân vào việc quản lý Nhà nước và xã hội thông qua hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Trong đó, Nhân dân là người trực tiếp tham gia, xây dựng và thực thi chính sách của Ðảng và Nhà nước.

Phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam thực chất là xây dựng nhà nước pháp quyền lấy dân làm gốc, dựa vào dân, tin dân, bảo vệ dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Nhân dân luôn ở vị trí người làm chủ và thật sự là chủ, được làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm. Pháp luật về dân chủ cơ sở 1. Khái niệm pháp luật về dân chủ cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở: a.

Khái niệm pháp luật về dân chủ cơ sở Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở. Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo của Nhân dân trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh. 10 Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở chủ yếu là tập trung thực hiện những nội dung quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34/2007-PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội). Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa các quyền, các giá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ