chương 1 Trong bài báo cáo này, đối tượng được phân tích là xí nghiệp xây lắp, trực thuộc công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Xí nghiệp xây lắp là công ty con không được độc lập về mặt tài chính với công ty mẹ, có hệ thống kế toán độc lập và hoạt động trên nguồn vốn của công ty mẹ cung cấp. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Ý nghĩa, mục tiêu phân tích báo cáo tài chính Các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính được chia làm hai nhóm chính: các đối tượng bên trong doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
Các nhà quản trị nội bộ sử dụng phân tích báo cáo tài chính nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là bảo toàn và phát triển vốn đầu tư của chủ sở hữu doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên, các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn; khả năng thanh toán dài hạn; hiệu quả hoạt động; khả năng sinh lợi; khả năng tạo ra đủ tiền cho các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài trợ; khả năng tăng giá trị của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán với các công ty cổ phần. Các chủ nợ cung cấp tín dụng bằng các hình thức như bán chịu, thương phiếu, trái phiếu, để hưởng tiền lời thì mong đợi các khoản tín dụng sẽ được hoàn trả theo các điều khoản tín dụng. Các nhà đầu tư mua cổ phiếu để hy vọng nhận được cổ tức và giá trị cổ phiếu gia tăng.
Cả hai nhóm đối tượng này đều đối diện với những rủi ro. Các chủ nợ đối diện với rủi ro là các con nợ sẽ không có khả năng trả nợ. Các nhà đầu tư đối diện với rủi ro là cổ tức sẽ bị cắt giảm hoặc không được chi trả hoặc giá trị cổ phiếu sụt giảm. Đối với cả hai nhóm, mục tiêu đề ra là đạt được khoản lợi nhuận để bù đắp rủi ro xảy ra.
Nói chung, rủi ro càng lớn thì lợi nhuận càng phải cao. Bất kì một khoản tín dụng hoặc một khoản đầu tư nào cũng có thể trở nên khó thu hồi. Do đó, hầu hết các chủ nợ và các nhà đầu tư thường đầu tư theo danh mục đầu tư, hoặc theo nhóm các khoản tín dụng hoặc đầu tư. Danh mục đầu tư cho phép họ quân bình lợi nhuận và rủi ro.
Tuy nhiên, danh mục đầu tư vào các khoản tín dụng hay cổ phiếu nào cũng tùy thuộc vào những quyết định cá biệt. Chính khi đưa ra những quyết định cá biệt này, phân tích báo cáo tài chính là có ích nhất. Các đối tượng khác nhau khi phân tích báo cáo tài chính sẽ có các mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính, khi phân tích báo cáo tài chính đều tiến hành theo hai mục tiêu tổng quát: Thứ nhất, đánh giá kết quả quá khứ và tình hình tài chính hiện hành Thứ hai, đánh giá các tiềm lực tương lai và các rủi ro gắn với tiềm lực đó.
Đánh giá kết quả quá khứ và tình hình tài chính hiện hành 13 Kết quả quá khứ thường là một dấu hiệu tốt của kết quả tương lai. Do đó, nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư hoặc chủ nợ xem xét xu hướng của doanh thu, chi phí, lợi nhuận thuần, dòng tiền và tỷ lệ hoàn vốn đầu tư quá khứ không chỉ là phương tiện để đánh giá kết quả quá khứ mà còn như một dấu hiệu của kết quả tương lai. Ngoài ra, phân tích tình hình tài chính hiện hành sẽ cho biết tài sản nào doanh nghiệp đang làm chủ, những khoản nợ nào phải được trả, tình hình tiền mặt ra sao, có bao nhiêu nợ doanh nghiệp đang gánh chịu tương quan với vốn chủ sở hữu, hàng tồn kho và các khoản phải thu hợp lý ra sao… Biết được kết quả quá khứ và tình hình hiện tại là vấn đề quan trọng để đạt mục tiêu tổng quát thứ hai của phân tích báo cáo tài chính. Đánh giá những tiềm lực tương lai và những rủi ro liên quan Thông tin quá khứ và hiện tại chỉ có ích khi nó mang lại những quyết định liên quan đến tương lai.
Một nhà đầu tư đánh giá khả năng sinh lợi tiềm tàng của một doanh nghiệp do khả năng sinh lợi sẽ ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp và các cổ tức sẽ trả. Một chủ nợ đánh giá khả năng chi trả nợ tiềm tàng của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào mà tiềm lực càng dễ dự đoán thì rủi ro càng ít. Tính rủi ro của các khoản đầu tư hoặc tín dụng phụ thuộc vào mức độ dễ dự đoán về khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán trong tương lai.
Thông thường do rủi ro lớn hơn nên nhà đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập đòi hỏi lợi nhuận mong đợi ( sự gia tăng thị giá cộng với cổ tức) cao hơn nhà đầu tư vào doanh nghiệp lớn. Tương tự như vậy, chủ nợ của các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập sẽ cần một lãi suất cao hơn và khả năng đảm bảo chi trả nhiều hơn so với chủ nợ của doanh nghiệp lớn. Tóm lại: Đối với doanh nghiệp, phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin chiến lược cải thiện hiệu quả hoạt động. Đối với cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, phân tích báo cáo tài chính giúp họ có quyết định tốt hơn trong mục tiêu của họ.
Nói chung, phân tích báo cáo tài chính giúp đánh giá kết quả và tình hình tài chính quá khứ, hiện tại và tương lai của doanh nghiệp. Các tiêu chuẩn để phân tích báo cáo tài chính Khi phân tích báo cáo tài chính, những người ra quyết định phải đánh giá các mối liên hệ họ đã tìm được là thuận lợi hay bất lợi. Ba tiêu chuẩn so sánh thường được dùng là: Thước đo thống kê kinh nghiệm. Kết quả quá khứ của doanh nghiệp.
Các tiêu chuẩn của ngành. Thước đo thống kê kinh nghiệm Thước đo thống kê kinh nghiệm là tiêu chuẩn so sánh dựa vào kinh nghiệm thực tế. Ví dụ: Hệ số thanh toán ngắn hạn là 2:1 là có thể chấp nhận được Nợ ngắn hạn / Vốn chủ sở hữu vượt quá 80% là tín hiệu đáng ngại Hàng tồn kho / Vốn luân chuyển thông thường không nên vượt quá 80%. Cần thận trọng khi sử dụng thước đo thống kê kinh nghiệm.
Chỉ nên sử dụng thước đo này nằm trong phạm vi cần nghiên cứu thêm. Không có bất cứ chứng cứ nào chứng tỏ thước đo thống kê kinh nghiệm là tốt nhất cho mọi doanh nghiệp. Kết quả quá khứ của doanh nghiệp Kết quả quá khứ của doanh nghiệp đóng vai trò là thước đo kết quả tài chính hiện hành của doanh nghiệp đang phân tích. Rõ ràng thước đo kết quả quá khứ tốt hơn hẳn thước đo thống kê kinh nghiệm do tính so sánh được của thông tin cao hơn.
Bằng thước đo này, các nhà phân tích có cơ sở đánh giá kết quả tài chính kỳ phân tích đã biến động theo chiều hướng tốt hơn hay xấu đi so với quá khứ. Nó cũng có ích trong việc chỉ ra xu hướng tương lai có thể xảy ra. Tuy nhiên, kết quả tài chính tương lai không phải hoàn toàn lặp lại của kết quả tài chính quá khứ, do đó các dự đoán dựa vào quá khứ phải được thực hiện thật cẩn thận. Không nên xem kết quả tài chính quá khứ là cơ sở duy nhất để dự doán kết quả tài chính tương lai.
Cần phải xem xét các nguồn dữ liệu bổ xung khác: xu hướng phát triển của ngành; Những thay đổi về kỹ thuật; những 15 thay đổi thị hiếu khách hàng; những thay đổi nhân tố kinh tế chung; Những thay đổi bên trong của chính doanh nghiệp đang phân tích… Cần lưu ý rằng thước đo kết quả quá khứ chỉ cho biết xu hướng biến động của kết quả tài chính của doanh nghiệp đang phân tích so với quá khứ. Thước đo này không cho biết mức độ thỏa đáng của biến động kết quả tài chính. Các tiêu chuẩn của ngành Sử dụng tiêu chuẩn ngành làm thước đo có thể khắc phục được nhược điểm trên của các thước đo quá khứ. Tiêu chuẩn này cho biết doanh nghiệp đang được phân tích có kết quả tài chính so với các doanh nghiệp cùng ngành ra sao.
Có ba hạn chế khi sử dụng tiêu chuẩn ngành. Thứ nhất, hoạt động của doanh nghiệp được xem là cùng ngành vẫn có thể không so sánh được. Ví dụ, cùng hoạt động trong ngành dầu khí, một doanh nghiệp là đại lý bán lẻ dầu khí, một doanh nghiệp khác là thăm dò khai thác dầu, tinh chế và bán các sản phẩm dầu khí của chính nó. Các hoạt động của hai doanh nghiệp này là khác nhau và không thể so sánh được.
Thứ hai, hầu hết các doanh nghiệp lớn hiện nay hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Trong số các doanh nghiệp này, có những doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành không liên đới nhau. Các bộ phận cá biệt của một doanh nghiệp đa ngành nói chung có những tỷ lệ lợi nhuận khác nhau và mức độ rủi ro cũng khác nhau. Khi phân tích báo cáo tài chính hợp nhất của các doanh nghiệp này người ta không thể sử dụng tiêu chuẩn ngành.
Thứ ba, các doanh nghiệp cùng ngành với các hoạt động tương tự có thể sử dụng phương pháp kế toán khác nhau. Chẳng hạn, hàng tồn kho có thể được đánh giá theo phương pháp khác nhau, tài sản cố định có thể được khấu hao theo phương pháp khác nhau… Tuy vậy, nếu có ít thông tin về quá khứ của doanh nghiệp, thì tiêu chuẩn ngành có thể cung cấp một tiêu chuẩn tốt nhất để đánh giá kết quả hiện hành của doanh nghiệp. Nguồn tài liệu phân tích báo cáo tài chính Các nhà phân tích bên ngoài doanh nghiệp thường bị hạn chế trong giới hạn của những thông tin công khai có sẵn của doanh nghiệp. Tài liệu chủ yếu để sử dụng phân tích báo cáo tài chính bao gồm các nguồn tài liệu sau: Các báo cáo được phát hành Các báo cáo hằng năm của doanh nghiệp là một nguồn thông tin tài chính quan trọng.
Các phần chính của báo cáo tài chính hằng năm là: phân tích hoạt động năm vừa qua của các nhà quản trị, các báo cáo tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán và các báo cáo hoạt động trong 5 năm hoặc 10 năm. Hầu hết các doanh nghiệp còn công bố báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ hoặc dạng tóm lược.