MỞ ĐẦU Biển cả đối với con người vốn có sự gắn bó khăng khít, biển cung cấp cho loài người một lượng lớn protid trong bữa ăn hàng ngày, cung cấp dược liệu, nguyên liệu cho công nghiệp, đồ chơi mỹ nghệ và còn là nơi du lịch nghỉ mát đầy hấp dẫn. Trên thế giới hiện nay có hàng trăm triệu người đang sinh sống bằng nghề biển, con người đã dựng lên bao huyền thoại về biển, đã từng ca ngợi vẻ đẹp tuyệt vời của biển, nhưng trong vẻ đẹp của thế giới sâu kín đó còn chứa đựng biết bao điểu bí ẩn và nguy hiểm, đã từng gây nhiều tai họa cho loài người, một phần của những tai họa đó là các sinh vật mang độc tố. Chỉ tính từ năm 1999 đến tháng 4 năm 2003 ở Việt Nam đã có 552 người ngộ độc do ăn phải cá nóc, làm chết 104 người (Báo cáo của Bộ Y Tế ngày 29/4/2003) phạm vi ngộ độc không chỉ hạn chế ở vùng ven biển là nơi khai thác cá nóc mà còn lan ra cả 35/61 tỉnh thành của cả nước. Trong đó có cả nạn nhân ở những vùng miễn núi xa xôi cách biển hàng trăm km.
Chi mới gần đây, tháng 12 năm 2004 và tháng 01 năm 2005, tại thành phố Nha Trang đã có 02 vụ ngộ độc cá nóc (tại Vĩnh Lương và Vĩnh Trường) gây tai họa cho hàng chục người, làm chết 02 người. Thật đáng tiếc, những người đã chết vì độc tố cá nóc thì họ đều đã biết rất rõ trong cá nóc có độc tố chết người, khi ăn vào là rất nguy hiểm, thế nhưng vẫn cứ ăn vì họ tin rằng chất độc chỉ có trong gan và trứng, nếu chỉ chỉ cẩn thận một chút khi làm thịt là có thể ăn được, bởi vì thịt cá nóc rất ngon và hấp dẫn. Khi biết mình đã bị ngấm độc thì đã quá muộn, không cứu được nữa! Ở vùng biển Việt Nam có khoảng 250 loài sinh vật có mang độc tố nhưng nguy hiểm và có thể gây chết người chỉ khoảng 40 ~ 50 loài. Phần lớn thường gặp chúng ở vùng ven bờ, các vũng vịnh đầm phá, hải đảo, rạn san hô và các cửa sông.
Khánh Hòa có một vùng biển rộng lớn, địa hình phức tạp đa dạng về sinh cảnh, phong phú về thành phần loài hải sản vào bậc nhất của Việt Nam. Biển đã đem lại cho tỉnh nhà một nguồn lợi rất to lớn, đồng thời cũng kèm theo nhiễu hiểm họa. Ngày nay con người đang hướng dân ra biển, cố gắng chỉnh phục đại dương, tìm hiểu, khám phá những bí mật, khai thác tiểm năng to lớn của biển cả phục vụ kinh tế và quốc phòng. Các công trình biển đang ngày càng thu hút đông đảo con người ra biển.
Hàng ngày con người tiếp xúc với biển, sử dụng những thực phẩm do biển mang lại trong đó có cả những sinh vật độc hại. Chính vì vậy mà tỉnh Khánh Hoà đã tài trợ kinh phi cho dé tài “Biên soạn tài liệu truyền thông về các động vật nguy hiểm có thể gây chết người ở biển Khánh Hòa” để tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân. Khi thực hiện để tài này chúng tôi đã có các kết quả nghiên cứu của các để tài cơ sở Viện Hải Dương Học và để tài cấp Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Gia: “Khảo sát và nghiên cứu về sinh vật mang độc tố có thể gây chết người ở biển Việt Nam” thực hiện trong các năm 1999 — 2002 là tài liệu tham khảo rất quí. Đồng thời chúng tôi còn tập hợp được nhiều tài liệu mới công bố về những nghiên cứu sinh vật độc hại ở trong nước và ngoài nước.
Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức nhiều chuyến thực địa thu mẫu ở Vạn Ninh, Ninh Hoà, Cam Ranh và Nha Trang, phân tích bổ sung các mẫu vật đã thu thập trong hai năm 2003 ~2004, để kiểm chứng và xác minh các kết quả, đặc biệt là những dẫn liệu ở Khánh Hòa. Những sinh vật độc hại có thể chuyển độc tố trong cơ thể chúng sang người theo hai cách: 1. Chủ động tấn công hoặc phần ứng tự vệ (cắn, chích) như các loài Đẻn (Rắn biển), Ơc Cối, một số loài cá (Mập, Chinh, Đuối, Mao Tiên, .), Mực Tuộc Đốm Xanh. Ngộ độc do con người ăn phải, chất độc có sẵn trong cơ thể sinh vật bị dùng làm thức ăn, từ đó mà truyển ngấm vào cơ thể con người, tác dụng lên não bộ, tim hoặc cơ quan hô hấp.
Như các loài Cá Nóc, Cá Hồng, Cá Bống Vân Mây, Cua, So, V. Trong báo cáo này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những loài mang độc tố có thể gây chết người đã xuất hiện ở Khánh Hòa và vùng phụ cận, đưa ra các thông tin cần thiết như: Đặc điểm hình thái nhận dạng, sinh học, sinh thái, phân bố, tính độc, triệu chứng ngộ độc, cách để phòng và chữa trị. nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho những cán bộ nghiên cứu và quản lý, cho ngư dân và những người làm nghề biển, cho các chiến sĩ hải quân, những khách du lịch, người nội trợ, đầu bếp chế biến thức ăn.biết rõ để để phòng, cảnh giác, thận trọng. Chất độc của các sinh vật biển là có hại, nhưng cũng đã có một số công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước chứng minh chất độc Tetrodotoxin của cá nóc được sử dụng để điều chế thuốc gây tê và thuốc kích thích hoạt động của hệ tuần hoàn, điều trị một số bệnh hiểm nghèo như các bệnh về tim mạch, ung thư, phong hủi,.
hoặc sử dụng chúng trong khoa học để nghiên cứu sự vận chuyển các ion Na” qua màng tế bào ( Lê Xuân Tú, Vũ Văn Hạnh, 2003). Đến một lúc nào đó,,chúng ta lai cin phải khai thác độc tố từ các sinh vật gây chết người này, biến cái độc hại thành sản phẩm quý giá mà thiên nhiên ban tặng. Đó là những thông tin mà chúng ta cần biết và phổ biến cho mọi người đểu biết để để phòng, để không phải chết oan uổng, biết cách khai thác và sử dụng chúng một cách hợp lí, khoa học, phục vụ cho đời sống con người. Yêu cầu của Tỉnh là rất cao và toàn diện, chúng tôi đã cố gắng hết sức, nhưng do trình độ chúng tôi còn nhiều hạn chế, cộng thêm thời gian nghiên cứu rất ngắn, kinh phí có hạn nên báo cáo này không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được các chuyên gia và các bạn đồng nghiệp, cùng nhân dân và các chiến sĩ hải quân góp cho nhiều ý kiến xây dựng.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.NHỮNG GHI NHẬN SỚM NHẤT VỀ SINH VẬT NGUY HIỂM 1.1 Cua độc Theo tài liệu sưu tầm của Mote và cộng sự (1970) vào khoảng năm 1686, trong suốt thời kỳ Palau bị Tây Ban Nha xâm lược đã có nhiều câu chuyện về sự ngộ độc và chết người do ăn cua biển. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy rất ít tài liệu xác định được chính xác loài cua liên quan. Trong việc thu thập mẫu cua ngoài thực địa ở Palau, Bic dao Caroline, nhiễu loài cua được ngư dân địa phương cho là rất độc. Các tác giả đã trình bày 2 báo cáo về sự ngộ độc cua ở Palau và kết quả thử nghiệm độc tố trên 4 loài cua nghỉ ngờ là cua độc.
Trong đó, trường hợp đầu tiên xảy ra vào tháng 4/1930. Một người đàn ông 33 tuổi sống ở làng Ngwell đã đâm được cá và cua, ông đã luộc cua chung với cá trong vòng 40 phút. OÂng ta ăn 4 miếng và ném mảnh vụn cho gà. Trong lúc rửa tay, ông cảm thấy ngứa và cứng các khớp ngón tay và cổ tay.
Ngay sau đó, cánh tay và chân trở nên tê liệt và ông không thể mở miệng. Nước đừa và thuốc được liên tục đưa vào miệng nạn nhân trong suốt một tuân lễ. Sang ngày thứ 8, ông cố gắng đi bộ nhưng vẫn ở trong tình trạng yếu đến nỗi phải dựa vào tường nhà. Nạn nhân hổi phục chậm và khi đã bình phục không còn dấu vết của sự ngộ độc.
Gà ăn cua bị chết. Cá nấu chung với cua không tìm thấy dấu vết của chất độc. Con cua này về sau được nhận dạng bởi nạn nhân và được xác định tên là Zosymus aeneus (Linnaeus). Hashimoto và cộng sự (1967) đã liệt kê 20 trường hợp ngộ độc cua xẩy ra Ở Amami- Oshima, Tokunoshima, Miyako và đảo Ishigaki nhưng chỉ có l trường hợp ở đảo Amami- Oshima được ghi nhận chính thức.
Ông và cộng sự (1967) cũng đã mô tả hiện tượng ngộ độc cua xảy ra vào ngày 30/5/1928 ở Okuma, Naze. Đã có 5 người bị ngộ độc trong đó 2 người bị chết do ăn súp trong bữa điểm tâm nấu bằng những con cua bắt được ở lưới giăng. Khi nhìn thấy 1 con heo mửa và chết sau khi ăn phần còn thừa, nạn nhân cảm nhận rằng mình đã bị ngộ độc. Ông tìm cách báo cho vợ đang di bán rong cua, nhưng bà cũng đã bị ngã trên đường.
Người chồng đã chết vào lúc 11 giờ, còn vợ chết sớm hơn lúc 10 giờ. Ba người khác cũng bị ngộ độc nhưng đã được cứu sống sau khi được chữa trị tại nhà thương. Alcala va Halstead (1972) đã có báo cáo đầu tiên về sự tử vong do ăn cua tại quân đảo Philippines. Ngày 1/4/1969, một người đàn ông Philippines đã nhặt một con cua bị vứt bỏ trên bờ vùng biển mở gần Sumaliring Barrio, Siaton, Nam Negros bởi người đánh cá vì họ cho rằng loài cua này không ăn được.
Vào khoảng § giờ, cua được luộc làm bữa ăn sáng. Nạn nhân ăn thịt và một ít phần béo của cua, mà phần béo này nếm rất đắng. Bởi vậy, toàn bộ phần đắng và phần vỏ được dành cho chó và mèo. Sau khi đi ngoài, nôn mửa và khạc nhổ nhiều lần, nạn nhân bị kiệt sức, không thể ăn thức ăn cứng và chỉ uống 3 ly tuba (một loại nhựa dừa đã được lên men).
Nạn nhân cảm thấy khó nói và khó thở. Cuối cùng co giật mạnh, ngừng hô hấp và chết lúc 3 giờ chiểu. Còn chó và mèo liên tục sùi bọt mép. Chó chết lúc chập tối và mèo chết lúc 10 giờ tối.
Không có thử nghiệm độc tố nào được thực hiện vào thời điểm đó. Loài gây chết trên được xác định là Dermania splendida Laurie. Đó là loại cua cancroid thuộc họ Xanthidae sống ở vùng nước cạn và ấn mình giữa san hô và rong, phần lớn có tập quán ăn đêm. So Những tài liệu ghi nhận về độc tố loài sinh vật nguy hiểm này (Carcinocorpius rotundicauda) khá hiếm có lẽ vì đây là 1 trong các loài thuộc sinh vật cổ quí hiếm (xuất hiện từ kỷ Silua -cách nay hơn 400 triệu năm- và chỉ sống ở biển.