ĐẶT VẤN ĐỀ Vượn má vàng hay còn được gọi là Vượn má hung (Nomascus gabrielae Thomas, 1909) là loài thú linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng cao và được ưu tiên bảo tồn. Hiện nay, Vượn má vàng được xếp ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ thế giới (IUCN, 2016) và Sách đỏ Việt Nam (2007); Loài thuộc nhóm IB trong Nghị định 32 (2006), Phụ Lục I của Nghị định 160 (2013) và Công ước CITES (2015). Vùng phân bố của loài Vượn má vàng được xác định ở Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và khu vực phía Nam của Việt Nam ở một số tỉnh: Kon Tum, Đắk Lắc, Đắk Nông, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998; Phạm Nhật, 2002; Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Năm 2010, Văn Ngọc Thịnh và các cộng sự căn cứ vào đặc điểm tiếng hót và phân tích di truyền đã phân chia loài Vượn má vàng thành hai loài riêng biệt là Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) và Vượn má vàng phía bắc (Nomascus annamensis).
Ở nước ta, Vượn má vàng phía nam được xác định có vùng phân bố ở Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai và Bình Phước (Văn Ngọc Thịnh et al., 2010 và Rawson et al. Kích thước quần thể của loài Vượn má vàng hiện nay được xác định chủ yếu là ước tính từ các đàn vượn ghi nhận thông qua tiếng hót. Tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Hoàng Minh Đức et al., (2010) ước tính có 124 đàn với khoảng 400 cá thể. Tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, Giang Trọng toàn (2013) ước tính có 170 đàn.
Tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, Keynon et al., (2007) ước tính có khoảng gần 149 đàn. Một số khu vực khác ở Việt Nam vẫn chưa có các thông tin cụ thể về số lượng của loài. Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên được thành lập vào tháng 02 năm 1988 với tổng diện tích là 82.722,8ha nằm trên địa lý hành chính của 3 tỉnh: download by : skknchat@gmail.com 2 Đồng Nai (50.995,78ha - thường được gọi là Nam Cát Tiên), Lâm Đồng (27.260,26ha) và tỉnh Bình Phước (4. Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm giữa hai vùng địa lý từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, hội tụ được các luồng hệ động - thực vật đa dạng và phong phú với 1.610 loài thực vật, 756 loài côn trùng, 159 loài cá và 614 loài động vật có xương sống khác.
Vườn Quốc gia Cát Tiên là nơi chứa đựng nhiều nguồn gen quý của cả nước như: Gõ đỏ, Gụ mật, Cẩm lai, Bướm phượng cánh sau vàng, Bướm phượng cánh kiếm, Hạc cổ trắng, Công, Ngan cánh trắng, Chà vá chân đen, Hoẵng nam bộ, Voi, Bò tót, Vượn má vàng phía nam.Ngoài ra, Vườn Quốc gia Cát Tiên là khu vực tái thả của nhiều loài như các loài cầy, thú linh trưởng và Tê tê. Công tác bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Tiên không chỉ trú trọng vào bảo tồn nội vi mà cả bảo tồn ngoại vi các loài động vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao như xây dựng trung tâm cứu hộ bảo tồn Gấu ngựa, Gấu chó, các loài Cu li và Vượn má vàng phía nam. Tuy nhiên, cũng giống như các khu rừng đặc dụng khác của cả nước, Vườn Quốc gia Cát Tiên hiện đang đối mặt với tình trạng săn bắn và khai thác gỗ, củi trái phép của con người. Các hoạt động tiêu cực này làm suy thoái nhanh tróng đa dạng sinh học và ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển du lịch sinh thái của khu vực.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tình trạng quần thể Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae Thomas 1909) tại Phân khu Nam Cát Tiên - Vườn Quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai”. Kết quả của đề tài sẽ bổ sung các thông tin hữu ích về kích thước quần thể, vùng cư trú, các mối đe dọa phục vụ công tác bảo tồn loài Vượn má vàng phía nam và phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học thú linh trƣởng ở Việt Nam Cũng giống như hệ thống phân loại thú linh trưởng trên thế giới, phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1: Tổng kết phân loại thú linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Nguyễn Xuân Đặng và Lê 2009 3 23 Xuân Cảnh (2009) Sự thay đổi số lượng các loài thú linh trưởng chủ yếu là do gộp vào hoặc tách ra của các phân loài thú linh trưởng và tên gọi của chúng.
Mặc dù chưa có sự thống nhất về số loài nhưng các tác giả đều phân chia thú linh trưởng Việt Nam thành 3 họ: họ Cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ 23 đến 25 loài. Trong các hệ thống phân loại thú linh trưởng thì hệ thống phân loại của Roos (2004) và Groves (2004) hiện đang được các nhà khoa học sử dụng rộng rãi nhất. Theo đó, số lượng các loài thú linh trưởng ở Việt Nam hiện có 24 loài thuộc 3 họ (xem bảng 1. download by : skknchat@gmail.2: Phân loại thú Linh trƣởng Việt Nam Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3 Khỉ cộc Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vượn đen hải nam Nomascus nasutus 22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vượn siki Nomascus siki 24 Vượn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) download by : skknchat@gmail.
Đặc điểm họ Vƣợn (Hylobatidae) Các loài vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á (Thomas geissmann et al. Các loài vượn đặc trưng bởi lối vận động, cấu trúc xã hội và thông tin liên lạc. Các loài vượn sống hoàn toàn trên cây và ăn quả là chủ yếu, sự đu tay tạo ra sự chuyển động đặc thù, tập tính treo thân độc đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên, thể hiện sự chuyên hóa cao độ đối với môi trường và chế độ ăn hàng ngày của chúng. Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm Symphalangus và Hylobates.
Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 (Thomas geissmann et al, 2000). Ở Việt Nam hiện chỉ có một giống vượn duy nhất là giống vượn mào (Nomascus) với số lượng thay đổi từ 5 đến 6 loài. Đặc điểm của giống Vượn mào (Nomascus) Những cá thể vượn mào hoang dã có khối lượng cơ thể trung bình là 7 - 8kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lượng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Thomas geissmann et al, 2000).
Các loài vượn mào có đặc điểm trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng, số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52. Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung download by : skknchat@gmail. Có sự lưỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thường có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tương tự như màu của con đực trưởng thành.
Đến thời gian trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của con cái trưởng thành (Grove, 2001). Các loài vượn ở Việt Nam và vùng phân bố của chúng Cũng giống như phân loại học về thú linh trưởng, các tác giả khác nhau cũng đưa ra sự phân chia khác nhau về số lượng loài thuộc giống Nomascus. Năm 2000, Thomas geissmann et al., đã phân chia vượn ở Việt Nam thành 5 loài và phân loài: 1. Vượn đen (chưa định tên) Nomascus.
Vượn đen tuyền (Nomascus concolor) 3. Vượn má trắng siki (N. gabriellae) Năm 2002, Phạm Nhật đã đưa ra quan điểm tương đối đồng nhất với Thomas geissmann với 5 loài và phân loài vượn ở nước ta. Tuy nhiên, loài Vượn đen hải nam (Nomascus concolor ssp) được thay cho Vượn đen (chưa định tên) và tên khoa học của Vượn đen tuyền là (Nomascus concolor concolor) thay cho (Nomascus concolor).
Năm 2004, Grove trong bảng phân loại thú linh trưởng vẫn giữ nguyên 5 loài vượn theo phân loại của Phạm Nhật. Tuy nhiên, tên khoa học một số loài đã có sự thay đổi (xem bảng 1. download by : skknchat@gmail.com 7 Năm 2009, Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh đã xây dựng danh lục thú Việt Nam. Đây là tài liệu cập nhật hiện nay về các loài thú trong cả nước với 322 loài thuộc 43 họ và 15 bộ.
Trong đó, họ Vượn có 5 loài thuộc 1 giống Nomascus đó là: 1. Vượn đen tuyền tây bắc (Nomascus concolor) 2. Vượn đen tuyền đông bắc (Nomascus nasutus) 3. Vượn siki (Nomascus siki) Năm 2010, Văn Ngọc Thịnh và các cộng sự thông qua tổng hợp các nghiên cứu mới nhất đã đưa ra kết luận có 6 loài vượn ở Việt Nam thuộc giống Nomascus.