Luận văn Thạc sĩ: Nghiên cứu quần thể Vượn má vàng phía nam tại Nam Cát Tiên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quần thể Vượn má vàng phía nam tại Nam Cát Tiên, đánh giá số lượng, mật độ, các mối đe dọa và giải pháp bảo tồn.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp

2017

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam

1.2. Đặc điểm họ Vượn (Hylobatidae)

1.3. Đặc điểm của giống Vượn mào (Nomascus)

1.4. Các loài vượn ở Việt Nam và vùng phân bố của chúng

1.5. Một số đặc điểm của Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae)

1.5.1. Đặc điểm nhận biết

1.5.2. Sinh thái và tập tính

1.6. Phương pháp điều tra Vượn

1.7. Các mối đe dọa đối với thú linh trưởng

1.8. Các nghiên cứu về Vượn má vàng phía nam tại VQG Cát Tiên

1.9. Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu tổng quát

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Công tác chuẩn bị

2.4.2. Thu thập số liệu ngoài thực địa

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí, ranh giới, diện tích. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng. Khí hậu, thủy văn

3.2. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp

3.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.3.1. Dân cư và dân tộc

3.3.2. Sản xuất nông nghiệp

3.3.3. Bưu chính, viễn thông

3.4. Nhận xét về các thuận lợi và khó khăn cho sự cư trú của loài Vượn má vàng phía nam và công tác quản lý bảo tồn

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Số đàn Vượn má vàng phía nam được ghi nhận tại khu vực điều tra

4.1.1. Kết quả điều tra vượn tại các điểm nghe

4.2. Số đàn vượn hiện có tại khu vực điều tra. Ước tính mật độ và kích thước quần thể Vượn má vàng phía nam tại phân khu Nam Cát Tiên

4.2.1. Ước tính mật độ vượn tại khu vực điều tra

4.2.2. Ước tính kích thước quần thể Vượn má vàng phía nam tại phân khu Nam Cát Tiên

4.3. So sánh quần thể Vượn tại Nam Cát Tiên với một số Khu bảo tồn và Vườn Quốc gia khác. Vùng phân bố Vượn má vàng phía nam tại Nam Cát Tiên

4.4. Các mối đe dọa tới quần thể Vượn má vàng phía nam tại phân khu Nam Cát Tiên

4.4.1. Mối đe dọa săn bắt

4.4.2. Hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép

4.4.3. Khai thác cát ven sông trái phép

4.4.4. Hoạt động du lịch và ảnh hưởng của đường mòn đi lại

4.5. Đề xuất một số biện pháp quản lý, bảo tồn loài Vượn má vàng phía nam tại phân khu Nam Cát Tiên – Vườn Quốc gia Cát Tiên

4.5.1. Ngăn chặn triệt để tình trạng săn bắn trái phép

4.5.2. Ngăn chặn các tác động đến vùng phân bố của vượn trong VQG

4.5.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học và các loài thú linh trưởng. Nâng cao đời sống của người dân địa phương

4.5.4. Kêu gọi nguồn đầu tư cho công tác bảo tồn Vượn má vàng phía nam và các loài thú khác trong khu vực

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đánh giá Tổng quan về Vượn má vàng Nam Cát Tiên Tầm quan trọng của loài linh trưởng quý

Luận văn tập trung vào tình trạng Vượn má vàng (Nomascus gabriellae Thomas, 1909), một loài thú linh trưởng đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vượn má vàng cao và được ưu tiên trong công tác bảo tồn. Loài này được xếp ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ thế giới (IUCN, 2016) và Sách đỏ Việt Nam (2007), đồng thời thuộc nhóm IB trong Nghị định 32 (2006) và Phụ lục I của Công ước CITES (2015). Vùng phân bố Vượn má vàng rộng khắp Đông Bắc Campuchia, Nam Lào, và phía Nam Việt Nam, bao gồm các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắc, Đắk Nông, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai. Đặc biệt, Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) được xác định phân bố tại Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai và Bình Phước (Văn Ngọc Thịnh et al., 2010; Rawson et al.).

Vườn Quốc gia Cát Tiên, thành lập năm 1988, có tổng diện tích 82.722,8ha trải rộng trên ba tỉnh: Đồng Nai (phân khu Nam Cát Tiên), Lâm Đồng và Bình Phước. Đây là khu vực chuyển tiếp từ cao nguyên Trường Sơn xuống đồng bằng Nam Bộ, tạo nên đa dạng sinh học Nam Cát Tiên phong phú với 1.610 loài thực vật và 614 loài động vật có xương sống. Vườn Quốc gia là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen quý giá của quốc gia và là điểm tái thả cho nhiều loài động vật, bao gồm các loài cầy, linh trưởng và tê tê. Công tác bảo tồn Vượn má vàng tại đây không chỉ tập trung vào bảo tồn nội vi mà còn triển khai các trung tâm cứu hộ cho gấu ngựa, gấu chó, cu li và Vượn má vàng phía nam. Quần thể Vượn má vàngVườn Quốc gia Nam Cát Tiên được Keynon et al. (2007) ước tính khoảng 149 đàn. Rawson et al. (2011) cho rằng Vượn má vàng phía nam có thể chiếm hơn một nửa số lượng vượn của cả nước, với ít nhất 300 đàn được ghi nhận tại VQG Bù Gia Mập, VQG Cát Tiên và các khu rừng lân cận. Điều này khẳng định vai trò then chốt của Nam Cát Tiên trong việc bảo vệ Vượn má vàng và toàn bộ đa dạng sinh học Nam Cát Tiên. Nghiên cứu của Lê Xuân Bắc (2017) là tài liệu quý giá, bổ sung thông tin cập nhật về kích thước quần thể, vùng cư trú và các mối đe dọa, góp phần xây dựng chiến lược bảo tồn hiệu quả cho Nomascus gabriellae và phát triển du lịch sinh thái bền vững.

1.1. Vượn má vàng Nomascus gabriellae Loài linh trưởng nguy cấp cần bảo tồn

Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) là một trong những loài linh trưởng Nam Cát Tiên đặc trưng và dễ bị tổn thương nhất. Đặc điểm nhận dạng của loài này bao gồm bộ lông đen tuyền ở con đực với hai đám lông má màu vàng nhạt, mơ hoặc cam, không trắng thuần khiết (Sồng A Trống, 2016). Con cái trưởng thành có bộ lông màu vàng nhạt, vàng mơ hoặc vàng chanh. Ngay cả khi sinh ra, vượn con cả đực và cái đều có lông màu vàng nhạt, sau đó chuyển sang đen trước khi con cái đổi màu lần nữa khi trưởng thành sinh dục (Grove, 2001). Sự biến đổi màu lông theo giới tính và độ tuổi là một đặc điểm sinh học thú vị của Nomascus gabriellae. Tình trạng nguy cơ tuyệt chủng vượn má vàng phản ánh sự suy thoái nghiêm trọng của môi trường sống vượn má vàng tự nhiên và áp lực lên vượn má vàng từ con người. Việc hiểu rõ các đặc điểm sinh học và sinh thái học của loài là cơ sở để phát triển các chương trình bảo vệ Vượn má vàng và phục hồi quần thể vượn má vàng hiệu quả, đảm bảo sự tồn tại của chúng trong tương lai.

1.2. Vị trí Chiến lược của Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên Nơi trú ẩn trọng yếu cho vượn má vàng

Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên không chỉ là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng nhất Việt Nam mà còn là một pháo đài cuối cùng cho quần thể Vượn má vàng và nhiều loài động vật hoang dã Nam Cát Tiên khác. Nằm trong Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai được UNESCO công nhận, VQG Cát Tiên sở hữu một hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới đa dạng với nhiều kiểu rừng tự nhiên như rừng gỗ thường xanh, rừng hỗn giao gỗ-tre nứa. Điều kiện tự nhiên thuận lợi, với địa hình đa dạng, đất đai màu mỡ và lượng mưa dồi dào, đã tạo nên môi trường sống Vượn má vàng lý tưởng. Sông Đồng Nai bao bọc quanh phần lớn phân khu Nam Cát Tiên cũng góp phần tạo rào cản tự nhiên, hạn chế tác động của con người. Sự phong phú về thảm thực vật cung cấp nguồn thức ăn dồi dào, hỗ trợ tập tính Vượn má vàng kiếm ăn và sinh sống. Do đó, việc duy trì và tăng cường công tác bảo tồn Vượn má vàng tại Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên là cực kỳ quan trọng, không chỉ cho loài vượn mà còn cho cả đa dạng sinh học Nam Cát Tiên.

II. Hiểm họa Đe dọa Quần thể Vượn má vàng tại VQG Nam Cát Tiên Phân tích nguy cơ suy giảm

Giống như nhiều loài linh trưởng Nam Cát Tiên khác, quần thể Vượn má vàng tại Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên đang đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng, chủ yếu là do mất sinh cảnh sống và áp lực săn bắt từ con người. Mất sinh cảnh sống là hệ quả của nhiều hoạt động tiêu cực. Nạn phá rừng để lấy gỗ, đốt nương làm rẫy, khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ trái phép (ví dụ: khai thác cát ven sông), cùng với các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cháy rừng, đều thu hẹp diện tích rừng tự nhiên – nơi môi trường sống Vượn má vàng lý tưởng. Khi rừng bị thu hẹp, các quần thể Vượn má vàng bị cô lập, giảm khả năng sinh sản và phát triển, đồng thời dễ dàng trở thành mục tiêu của thợ săn. Mất sinh cảnh không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nơi ở mà còn làm suy giảm nguồn thức ăn, buộc vượn phải di chuyển đến những khu vực tiềm ẩn nhiều nguy hiểm hơn.

Bên cạnh đó, áp lực săn bắt Vượn má vàng trái phép là một mối đe dọa trực tiếp và nghiêm trọng. Với sự phát triển kinh tế và nhu cầu ngày càng tăng của con người, các loài linh trưởng có giá trị kinh tế cao về thực phẩm và dược liệu, biến chúng thành mục tiêu chính của những kẻ săn trộm. Vượn má vàng, với kích thước và trọng lượng cơ thể đáng kể, luôn nằm trong danh sách các loài bị săn bắn. Các phương thức săn bắt rất đa dạng và ngày càng tinh vi, từ bẫy cần giật, bẫy lồng sập, bẫy kẹp, súng kíp truyền thống đến các loại súng săn hiện đại. Theo Phạm Nhật (2002), hoạt động săn bắt thú linh trưởng ở một số khu vực từng diễn ra với cường độ cao, ví dụ như ở Phong Nha Kẻ Bàng, hàng năm có tới không dưới 1 tấn khỉ ép được khai thác. Tình trạng này đẩy quần thể Vượn má vàng vào nguy cơ tuyệt chủng Vượn má vàng cao hơn bao giờ hết, đe dọa sự tồn tại của chúng trong hệ sinh thái đa dạng sinh học Nam Cát Tiên. Công tác báo cáo vượn má vàng thường xuyên ghi nhận các hoạt động vi phạm này, nhấn mạnh tính cấp thiết của các biện pháp bảo vệ vượn má vàng.

2.1. Suy giảm Môi trường sống Vượn má vàng Thách thức lớn từ nạn phá rừng và khai thác

Sự suy thoái và mất mát môi trường sống Vượn má vàng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng Vượn má vàng. Các hoạt động của con người như khai thác gỗ trái phép, đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản ngoài gỗ (như tre nứa, cát ven sông) đã tàn phá các khu rừng nguyên sinh và thứ sinh, vốn là nơi cư trú chính của Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên. Ngoài ra, việc xây dựng các công trình phát triển, mở rộng khu dân cư, và các sự kiện thiên tai như cháy rừng cũng góp phần làm phân mảnh và thu hẹp sinh cảnh. Khi môi trường sống vượn má vàng bị chia cắt, các đàn vượn bị cô lập, giảm khả năng di chuyển, tìm kiếm thức ăn và bạn tình, dẫn đến sự suy giảm đa dạng di truyền và sức sống của quần thể vượn má vàng. Áp lực này khiến vượn dễ bị tổn thương hơn trước các yếu tố gây hại khác, đặc biệt là săn bắt. Nghiên cứu của Lê Xuân Bắc (2017) cũng chỉ rõ mối đe dọa từ hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép diễn ra ngay trong Vườn Quốc gia, gây tác động tiêu cực đến động vật hoang dã Nam Cát Tiên nói chung và vượn má vàng Nam Cát Tiên nói riêng.

2.2. Áp lực săn bắt Vượn má vàng Mối đe dọa trực tiếp đẩy loài đến nguy cơ tuyệt chủng

Bên cạnh mất sinh cảnh, áp lực săn bắt Vượn má vàng là mối đe dọa trực diện, đẩy loài này đến nguy cơ tuyệt chủng Vượn má vàng. Nhu cầu từ thị trường buôn bán động vật hoang dã, sử dụng làm thực phẩm quý hiếm, dược liệu cổ truyền, hoặc nuôi nhốt làm thú cảnh đã thúc đẩy nạn săn bắt trái phép diễn ra liên tục. Thợ săn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ bẫy thô sơ đến súng săn hiện đại, gây thiệt hại lớn cho quần thể vượn má vàng. Theo Lê Xuân Bắc (2017), nạn săn bắt trái phép vẫn là một trong những mối đe dọa chính đối với Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên. Mặc dù tất cả các loài linh trưởng Nam Cát Tiên ở Việt Nam đều được xếp vào tình trạng nguy cấp, hoạt động săn bắt vẫn tiếp diễn không ngừng, thách thức các nỗ lực bảo tồn Vượn má vàng. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng cá thể mà còn phá vỡ cấu trúc xã hội và tập tính Vượn má vàng tự nhiên, làm suy yếu khả năng phục hồi của loài. Các báo cáo Vượn má vàng thường xuyên phản ánh thực trạng này, yêu cầu những biện pháp quyết liệt hơn để kiểm soát và chấm dứt nạn săn bắt.

III. Nghiên cứu Vượn má vàng Phương pháp định lượng và Xác định phân bố Nomascus gabriellae

Việc nghiên cứu Vượn má vàng đòi hỏi các phương pháp khoa học chuyên biệt, đặc biệt do tập tính Vượn má vàng di chuyển nhanh, sống trên tầng cây cao và rất nhạy cảm với sự hiện diện của con người. Điều này khiến việc quan sát trực tiếp trở nên khó khăn. Tuy nhiên, vượn có khả năng hót to và kéo dài, đây là đặc điểm quan trọng được khai thác trong điều tra. Chúng có tập tính sống theo vùng lãnh thổ, với diện tích vùng sống khoảng 30ha, bán kính khoảng 500m (Brokeman, 1993). Do đó, phương pháp điều tra chủ yếu được áp dụng là thông qua việc ghi nhận tiếng hót tại các điểm nghe. Các nghiên cứu trước đây đã áp dụng phương pháp này, nhưng Lê Xuân Bắc (2017) chỉ ra rằng không phải lúc nào đàn vượn cũng hót trong thời gian điều tra, và các đàn không hót thường không được phát hiện.

Để khắc phục những hạn chế này và nâng cao độ chính xác, nghiên cứu của Lê Xuân Bắc (2017) đã sử dụng phương pháp điều tra vượn tại các điểm nghe kết hợp với phần mềm tính toán tự động của Vũ Tiến Thịnh và Rawson (2011). Phần mềm này cho phép ước lượng kích thước quần thể Vượn má vàng trong khu vực nghiên cứu thông qua tiếng hót ghi nhận, có tính đến hệ số hiệu chỉnh (xác suất hót theo ngày). Hệ số hiệu chỉnh này là xác suất mà một đàn vượn hót ít nhất một lần trong ba ngày điều tra tại điểm nghe. Phương pháp này đã được nhiều tác giả sử dụng thành công (Hoàng Minh Đức et al. 2011; Rawson and Lưu Tường Bách, 2011; Hà Thăng Long, 2011; Giang Trọng Toàn, 2013). Các điểm điều tra (điểm nghe) được bố trí chiến lược trên đỉnh hoặc dông núi để tối đa hóa phạm vi nghe. Tại Nam Cát Tiên, do địa hình tương đối bằng phẳng, bán kính nghe được giới hạn ở 1300m. Việc xác định vị trí các đàn vượn trên bản đồ thông qua phương pháp giao hội điểm từ nhiều điểm nghe giúp xác định chính xác khu vực phân bố Vượn má vàng và ước tính mật độ Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên một cách khoa học, đóng góp vào các báo cáo Vượn má vàng chi tiết hơn.

3.1. Phương pháp Điều tra Vượn má vàng bằng tiếng hót Ứng dụng công nghệ hiện đại

Việc điều tra tình trạng Vượn má vàng đòi hỏi sự sáng tạo do đặc điểm hành vi Vượn má vàng khó quan sát trực tiếp. Phương pháp điều tra chủ yếu thông qua tiếng hót đã được phát triển và tối ưu hóa. Các nhà khoa học bố trí các điểm nghe trên địa hình phù hợp (ví dụ: đỉnh núi, dông núi) để thu âm tiếng hót của các đàn vượn. Mỗi điểm nghe được điều tra liên tục trong ba ngày, từ 5h đến 9h sáng, khoảng thời gian vượn thường bắt đầu ngày mới bằng bản nhạc đồng ca đặc trưng (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Việc ghi nhận thời gian hót, góc phương vị và ước lượng khoảng cách từ điểm nghe đến đàn giúp xác định vị trí đàn vượn. Để nâng cao độ chính xác, nghiên cứu của Lê Xuân Bắc (2017) sử dụng phương pháp của Vũ Tiến Thịnh và Rawson (2011), bao gồm phần mềm tính toán tự động và hệ số hiệu chỉnh xác suất hót theo ngày. Điều này đảm bảo việc ước tính quần thể Vượn má vàngphân bố Vượn má vàng được thực hiện một cách khoa học, giảm thiểu sai số do các đàn vượn không hót hoặc khó tiếp cận. Đây là một phương pháp hiệu quả để thu thập dữ liệu về Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên.

3.2. Quy trình Xác định vị trí và phân bố Nomascus gabriellae Đảm bảo độ chính xác cao

Để xác định chính xác vị trí và phân bố Nomascus gabriellae tại phân khu Nam Cát Tiên, một quy trình điều tra chặt chẽ được áp dụng. Ba mươi sáu điểm điều tra (điểm nghe) được bố trí rộng khắp khu vực, đảm bảo đại diện cho các môi trường sống Vượn má vàng tiềm năng. Mỗi cụm điểm nghe thường có 3-4 điểm, cách nhau 400-500m theo hình tam giác, giúp tăng phạm vi nghe và độ chính xác khi xác định vị trí đàn vượn bằng phương pháp giao hội điểm. Dữ liệu thu thập được bao gồm thời gian hót, góc phương vị, khoảng cách ước lượng, cấu trúc đàn và sinh cảnh xung quanh. Các thông tin này sau đó được nhập vào các phần mềm chuyên dụng như Mapinfo để vẽ đường thẳng từ các điểm nghe và xác định giao điểm – chính là vị trí của đàn vượn. Việc loại bỏ các sinh cảnh không phù hợp (như đất trống, rừng tre nứa, khu dân cư) khỏi diện tích tính toán mật độ giúp ước tính quần thể vượn má vàng một cách chính xác hơn. Phương pháp này không chỉ cung cấp dữ liệu về số lượng mà còn vẽ nên bức tranh rõ ràng về phân bố Vượn má vàng trong Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên, làm cơ sở cho các báo cáo Vượn má vàng và chiến lược bảo vệ Vượn má vàng.

IV. Giải pháp Cấp thiết Bảo vệ Vượn má vàng và Môi trường sống tại Nam Cát Tiên

Trước tình trạng Vượn má vàng đang đối mặt với nhiều mối đe dọa, việc đưa ra các giải pháp cấp thiết và bền vững để bảo vệ Vượn má vàng là vô cùng quan trọng. Các biện pháp này cần được triển khai đồng bộ, từ việc tăng cường thực thi pháp luật đến nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển sinh kế cho người dân địa phương. Luận văn của Lê Xuân Bắc (2017) đã đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết các áp lực lên Vượn má vàngmôi trường sống Vượn má vàng tại phân khu Nam Cát Tiên của Vườn Quốc gia Cát Tiên.

Một trong những giải pháp hàng đầu là ngăn chặn triệt để tình trạng săn bắn trái phép và các hoạt động khai thác tài nguyên rừng bất hợp pháp. Điều này bao gồm việc tăng cường tuần tra, kiểm soát của lực lượng kiểm lâm, áp dụng các công cụ giám sát hiện đại, và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm. Việc bảo vệ nguyên vẹn vùng phân bố Vượn má vàng trong Vườn Quốc gia là tối quan trọng để duy trì môi trường sống Vượn má vàng tự nhiên và đảm bảo quần thể Vượn má vàng có đủ không gian để sinh tồn. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của đa dạng sinh học Nam Cát Tiên và các loài linh trưởng Nam Cát Tiên nói chung, đặc biệt là Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên, là một yếu tố then chốt. Giáo dục môi trường cho người dân địa phương, đặc biệt là những người sống gần vùng lõi Vườn Quốc gia, giúp họ hiểu rõ giá trị của động vật hoang dã Nam Cát Tiên và tác động tiêu cực của các hoạt động vi phạm. Kết hợp với việc nâng cao đời sống của người dân địa phương thông qua các chương trình phát triển sinh kế bền vững, giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, sẽ tạo ra sự đồng thuận và hợp tác trong công tác bảo tồn Vượn má vàng. Cuối cùng, việc kêu gọi nguồn đầu tư từ các tổ chức trong nước và quốc tế là cần thiết để đảm bảo nguồn lực tài chính, vật tư và nhân lực cho các hoạt động nghiên cứu Vượn má vàng, tuần tra, cứu hộ và bảo tồn lâu dài.

4.1. Ngăn chặn Săn bắt và Khai thác trái phép Biện pháp kiên quyết bảo vệ động vật hoang dã

Để bảo vệ Vượn má vàng khỏi nguy cơ tuyệt chủng Vượn má vàng, việc ngăn chặn triệt để nạn săn bắt và khai thác tài nguyên trái phép là yếu tố then chốt. Lực lượng kiểm lâm cần được tăng cường về số lượng, trang bị và năng lực nghiệp vụ để kiểm soát hiệu quả diện tích rộng lớn của Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Cần triển khai các đợt tuần tra thường xuyên, không chỉ ở các tuyến đường mòn mà còn ở các khu vực sâu trong rừng, nơi Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên sinh sống. Việc phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi săn bắt, buôn bán động vật hoang dã Nam Cát Tiên và khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ trái phép sẽ tạo ra sức răn đe mạnh mẽ. Đồng thời, cần sử dụng công nghệ giám sát hiện đại như camera tự động, hệ thống định vị GPS để theo dõi các điểm nóng về vi phạm. Các báo cáo Vượn má vàng cho thấy áp lực từ các hoạt động này vẫn còn đáng kể, đòi hỏi sự kiên quyết và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để bảo vệ quần thể Vượn má vàng.

4.2. Nâng cao Nhận thức cộng đồng và Phát triển sinh kế Chìa khóa bảo tồn Vượn má vàng bền vững

Công tác bảo tồn Vượn má vàng sẽ không thể thành công nếu không có sự tham gia và ủng hộ của cộng đồng địa phương. Nâng cao nhận thức về giá trị của đa dạng sinh học Nam Cát Tiênlinh trưởng Nam Cát Tiên nói chung là một chiến lược dài hạn. Các chương trình giáo dục môi trường cần được triển khai tại các trường học và cộng đồng, nhấn mạnh vai trò của Vượn má vàng Nam Cát Tiên trong hệ sinh thái. Quan trọng hơn, việc phát triển các mô hình sinh kế bền vững cho người dân sống xung quanh Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên sẽ giảm thiểu sự phụ thuộc của họ vào tài nguyên rừng. Các dự án hỗ trợ nông nghiệp sạch, du lịch sinh thái cộng đồng, hoặc các nghề thủ công truyền thống có thể tạo ra thu nhập thay thế, giảm áp lực lên Vượn má vàngmôi trường sống Vượn má vàng. Khi người dân thấy được lợi ích từ việc bảo tồn, họ sẽ trở thành những người bảo vệ rừng và động vật hoang dã Nam Cát Tiên tích cực nhất.

V. Khám phá Kết quả Tình trạng Vượn má vàng và Tập tính Nomascus gabriellae hiện tại

Kết quả nghiên cứu Vượn má vàng của Lê Xuân Bắc (2017) đã cung cấp cái nhìn chi tiết về tình trạng Vượn má vàng tại phân khu Nam Cát Tiên, Vườn Quốc gia Cát Tiên. Trong tổng số 36 điểm điều tra, 35 điểm đã ghi nhận được tiếng hót của vượn, cho thấy sự hiện diện rộng khắp của quần thể Vượn má vàng trong khu vực. Thông tin chi tiết từ các điểm điều tra bao gồm khoảng cách nghe, độ cao, cấu trúc đàn và thời gian hót. Các đàn vượn thường được ghi nhận với cấu trúc điển hình gồm một cá thể đực trưởng thành và một cá thể cái trưởng thành, đôi khi kèm theo một đến hai cá thể con non hoặc bán trưởng thành. Nghiên cứu sử dụng kích thước đàn trung bình là 3,5 cá thể để ước tính số lượng cá thể trong quần thể vượn má vàng (Brokeman 1993; Hoàng Minh Đức et al., 2010; Giang Trọng Toàn, 2013).

Tập tính Vượn má vàng hót là một đặc điểm quan trọng trong việc điều tra. Vượn thường bắt đầu hót vào buổi sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, và cường độ hót kéo dài trong khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, vượn ít hót vào những ngày mưa. Hành vi Vượn má vàng kiếm ăn chủ yếu trên cây, tập trung vào trái cây và lá non của nhiều loài cây rừng. Cường độ kiếm ăn mạnh vào đầu buổi sáng và cuối buổi chiều. Về sinh sản, vượn mẹ mang con nhỏ thường được bắt gặp từ tháng 3 đến tháng 6. Các dữ liệu về phân bố Vượn má vàng và mật độ đàn được tính toán dựa trên diện tích sinh cảnh phù hợp (rừng lá rộng thường xanh, rừng hỗn giao) trong vùng nghe thấy. Việc xác định vị trí các đàn vượn thông qua phương pháp giao hội điểm và sử dụng các phần mềm chuyên dụng đã cung cấp bản đồ phân bố chi tiết, làm cơ sở cho các báo cáo Vượn má vàng và chiến lược bảo vệ Vượn má vàng. Các phát hiện này không chỉ cập nhật thông tin về Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên mà còn làm giàu thêm hiểu biết về đa dạng sinh học Nam Cát Tiên nói chung.

5.1. Số lượng và Phân bố Quần thể Vượn má vàng Dữ liệu ghi nhận từ thực địa

Dựa trên kết quả nghiên cứu Vượn má vàng của Lê Xuân Bắc (2017), tổng cộng có 35 trên 36 điểm điều tra đã ghi nhận sự hiện diện của tiếng hót vượn, minh chứng cho sự phân bố khá rộng của quần thể Vượn má vàng trong phân khu Nam Cát Tiên. Từ các dữ liệu thu thập được, số đàn vượn hiện có trong khu vực điều tra có thể nghe thấy và số lượng cá thể được ước tính bằng cách áp dụng hệ số hiệu chỉnh xác suất hót (Giang Trọng Toàn, 2013) và kích thước đàn trung bình 3,5 cá thể. Diện tích sinh cảnh thích hợp cho vượn sinh sống, bao gồm rừng lá rộng thường xanh và rừng hỗn giao, được tính toán cẩn thận, loại bỏ các khu vực không phù hợp như mặt nước hay đất trống. Điều này giúp xác định mật độ chính xác của Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên trong khu vực. Bản đồ phân bố Vượn má vàng được tạo ra từ các điểm ghi nhận, cung cấp cái nhìn trực quan về các vùng cư trú chính của loài trong Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Những thông tin này rất quan trọng cho các báo cáo Vượn má vàng và việc hoạch định các chiến lược bảo vệ Vượn má vàng tiếp theo.

5.2. Hành vi và Tập tính Vượn má vàng quan sát được Góc nhìn sâu sắc về cuộc sống tự nhiên

Các quan sát trong quá trình nghiên cứu Vượn má vàng đã cung cấp những thông tin giá trị về hành vi Vượn má vàngtập tính Vượn má vàng tại Nam Cát Tiên. Vượn má vàng nổi tiếng với tiếng hót 'đồng ca' đặc trưng vào buổi sáng sớm, thường bắt đầu trước khi mặt trời mọc, tuy nhiên, chúng hiếm khi hót vào những ngày trời mưa (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Tiếng hót này không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là cách xác định lãnh thổ và vị trí của các đàn. Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên là loài sống hoàn toàn trên cây, với tập tính kiếm ăn chủ yếu vào buổi sáng sớm và cuối buổi chiều. Thức ăn chính của chúng là trái cây và lá non của nhiều loài cây rừng, phản ánh chế độ ăn chuyên hóa. Về sinh sản, vượn mẹ thường mang con nhỏ trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6. Cấu trúc đàn thường là gia đình nhỏ từ 2-4 cá thể, bao gồm bố mẹ và con cái các lứa tuổi, với cá thể đực trưởng thành thường tách đàn và sống biệt lập. Hiểu rõ những tập tính Vượn má vàng này là cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo vệ Vượn má vàng phù hợp, giảm thiểu tác động của con người đến cuộc sống tự nhiên của loài.

VI. Tương lai Bảo tồn Vượn má vàng Hướng đi cho Đa dạng sinh học Nam Cát Tiên

Việc bảo tồn Vượn má vàng tại Nam Cát Tiên không chỉ là trách nhiệm của riêng Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên mà còn đòi hỏi sự hợp tác đa phương và chiến lược dài hạn. Các kết quả từ luận văn: Tình trạng Vượn má vàng tại Nam Cát Tiên của Lê Xuân Bắc (2017) đã đặt nền móng vững chắc cho các hành động trong tương lai, bổ sung thông tin hữu ích về kích thước quần thể, vùng cư trú và các mối đe dọa, phục vụ công tác bảo tồn loài Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên và phát triển du lịch sinh thái bền vững. Để đảm bảo tương lai cho quần thể Vượn má vàng, cần tiếp tục duy trì và mở rộng các hoạt động nghiên cứu Vượn má vàng khoa học, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong giám sát và quản lý. Đồng thời, việc củng cố hệ thống pháp luật, tăng cường lực lượng thực thi và xây dựng các chương trình nâng cao năng lực cho cán bộ bảo tồn là thiết yếu. Bên cạnh đó, vai trò của cộng đồng địa phương trong công tác bảo vệ Vượn má vàng là không thể thiếu. Các chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức và hỗ trợ sinh kế sẽ khuyến khích người dân trở thành những đối tác tích cực trong nỗ lực bảo tồn. Việc kết nối giữa bảo tồn và du lịch sinh thái cũng mở ra cơ hội tạo nguồn thu bền vững, tái đầu tư vào các hoạt động bảo tồn linh trưởng Nam Cát Tiên và các loài động vật hoang dã Nam Cát Tiên khác.

Tương lai của Vượn má vàng Nam Cát Tiên gắn liền với tương lai của đa dạng sinh học Nam Cát Tiên. Việc duy trì một hệ sinh thái rừng khỏe mạnh, nơi môi trường sống Vượn má vàng được bảo vệ khỏi các áp lực lên Vượn má vàng, là chìa khóa để đảm bảo sự tồn tại của loài này và nhiều loài khác. Các sáng kiến hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực tài chính, sẽ đóng góp quan trọng vào việc đạt được mục tiêu bảo tồn dài hạn. Chỉ khi có sự chung tay của chính quyền, nhà khoa học, cộng đồng và các tổ chức quốc tế, chúng ta mới có thể hy vọng vào một tương lai bền vững cho Nomascus gabriellae và toàn bộ hệ sinh thái độc đáo của Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên, tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng Vượn má vàng và bảo vệ một di sản thiên nhiên quý giá cho thế hệ mai sau. Các báo cáo Vượn má vàng định kỳ sẽ giúp đánh giá tiến độ và điều chỉnh chiến lược kịp thời.

6.1. Thúc đẩy Hợp tác Quốc tế và Nghiên cứu Khoa học Nâng cao hiệu quả bảo tồn Vượn má vàng

Để nâng cao hiệu quả bảo tồn Vượn má vàng, việc thúc đẩy hợp tác quốc tế và đầu tư vào nghiên cứu Vượn má vàng là vô cùng quan trọng. Các tổ chức quốc tế có thể cung cấp nguồn tài chính, kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm quản lý bảo tồn từ các khu vực khác. Hợp tác trong các dự án nghiên cứu về tập tính Vượn má vàng, di truyền học, sinh thái học, và các mối đe dọa sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về loài Nomascus gabriellae Nam Cát Tiên. Cần khuyến khích các nhà khoa học tiếp tục thực hiện các cuộc điều tra bổ sung, cập nhật tình trạng Vượn má vàngphân bố Vượn má vàng sau năm 2017, như luận văn của Lê Xuân Bắc đã chỉ ra. Việc ứng dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến, như hệ thống giám sát âm thanh tự động và phân tích dữ liệu lớn, sẽ giúp thu thập thông tin hiệu quả hơn, từ đó đưa ra các báo cáo Vượn má vàng và chiến lược bảo vệ Vượn má vàng chính xác, khoa học và kịp thời, góp phần giữ gìn đa dạng sinh học Nam Cát Tiên.

6.2. Phát triển Du lịch Sinh thái Bền vững Gắn kết lợi ích cộng đồng với đa dạng sinh học Nam Cát Tiên

Phát triển du lịch sinh thái bền vững là một hướng đi chiến lược để vừa tạo nguồn thu, vừa nâng cao ý thức bảo tồn Vượn má vàngđa dạng sinh học Nam Cát Tiên. Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên với vẻ đẹp tự nhiên và sự phong phú của động vật hoang dã Nam Cát Tiên, đặc biệt là linh trưởng Nam Cát Tiên, có tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái. Khi du khách đến thăm, họ không chỉ trải nghiệm thiên nhiên mà còn hiểu thêm về tầm quan trọng của việc bảo vệ Vượn má vàng. Nguồn thu từ du lịch có thể được tái đầu tư vào các hoạt động bảo tồn, nâng cao năng lực cho kiểm lâm, và hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng địa phương. Các mô hình du lịch có trách nhiệm, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường sống Vượn má vàngtập tính Vượn má vàng, cần được ưu tiên. Điều này giúp gắn kết lợi ích kinh tế của người dân với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tạo động lực mạnh mẽ để họ cùng tham gia vào công tác bảo tồn, giảm thiểu áp lực lên Vượn má vàng và chung tay chống lại nguy cơ tuyệt chủng Vượn má vàng.

01/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vượn má vàng hay còn được gọi là Vượn má hung (Nomascus gabrielae Thomas, 1909) là loài thú linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng cao và được ưu tiên bảo tồn. Hiện nay, Vượn má vàng được xếp ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ thế giới (IUCN, 2016) và Sách đỏ Việt Nam (2007); Loài thuộc nhóm IB trong Nghị định 32 (2006), Phụ Lục I của Nghị định 160 (2013) và Công ước CITES (2015). Vùng phân bố của loài Vượn má vàng được xác định ở Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và khu vực phía Nam của Việt Nam ở một số tỉnh: Kon Tum, Đắk Lắc, Đắk Nông, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998; Phạm Nhật, 2002; Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Năm 2010, Văn Ngọc Thịnh và các cộng sự căn cứ vào đặc điểm tiếng hót và phân tích di truyền đã phân chia loài Vượn má vàng thành hai loài riêng biệt là Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) và Vượn má vàng phía bắc (Nomascus annamensis).

Ở nước ta, Vượn má vàng phía nam được xác định có vùng phân bố ở Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai và Bình Phước (Văn Ngọc Thịnh et al., 2010 và Rawson et al. Kích thước quần thể của loài Vượn má vàng hiện nay được xác định chủ yếu là ước tính từ các đàn vượn ghi nhận thông qua tiếng hót. Tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Hoàng Minh Đức et al., (2010) ước tính có 124 đàn với khoảng 400 cá thể. Tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, Giang Trọng toàn (2013) ước tính có 170 đàn.

Tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, Keynon et al., (2007) ước tính có khoảng gần 149 đàn. Một số khu vực khác ở Việt Nam vẫn chưa có các thông tin cụ thể về số lượng của loài. Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên được thành lập vào tháng 02 năm 1988 với tổng diện tích là 82.722,8ha nằm trên địa lý hành chính của 3 tỉnh: download by : skknchat@gmail.com 2 Đồng Nai (50.995,78ha - thường được gọi là Nam Cát Tiên), Lâm Đồng (27.260,26ha) và tỉnh Bình Phước (4. Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm giữa hai vùng địa lý từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, hội tụ được các luồng hệ động - thực vật đa dạng và phong phú với 1.610 loài thực vật, 756 loài côn trùng, 159 loài cá và 614 loài động vật có xương sống khác.

Vườn Quốc gia Cát Tiên là nơi chứa đựng nhiều nguồn gen quý của cả nước như: Gõ đỏ, Gụ mật, Cẩm lai, Bướm phượng cánh sau vàng, Bướm phượng cánh kiếm, Hạc cổ trắng, Công, Ngan cánh trắng, Chà vá chân đen, Hoẵng nam bộ, Voi, Bò tót, Vượn má vàng phía nam.Ngoài ra, Vườn Quốc gia Cát Tiên là khu vực tái thả của nhiều loài như các loài cầy, thú linh trưởng và Tê tê. Công tác bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Tiên không chỉ trú trọng vào bảo tồn nội vi mà cả bảo tồn ngoại vi các loài động vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao như xây dựng trung tâm cứu hộ bảo tồn Gấu ngựa, Gấu chó, các loài Cu li và Vượn má vàng phía nam. Tuy nhiên, cũng giống như các khu rừng đặc dụng khác của cả nước, Vườn Quốc gia Cát Tiên hiện đang đối mặt với tình trạng săn bắn và khai thác gỗ, củi trái phép của con người. Các hoạt động tiêu cực này làm suy thoái nhanh tróng đa dạng sinh học và ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển du lịch sinh thái của khu vực.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tình trạng quần thể Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae Thomas 1909) tại Phân khu Nam Cát Tiên - Vườn Quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai”. Kết quả của đề tài sẽ bổ sung các thông tin hữu ích về kích thước quần thể, vùng cư trú, các mối đe dọa phục vụ công tác bảo tồn loài Vượn má vàng phía nam và phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học thú linh trƣởng ở Việt Nam Cũng giống như hệ thống phân loại thú linh trưởng trên thế giới, phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1: Tổng kết phân loại thú linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Nguyễn Xuân Đặng và Lê 2009 3 23 Xuân Cảnh (2009) Sự thay đổi số lượng các loài thú linh trưởng chủ yếu là do gộp vào hoặc tách ra của các phân loài thú linh trưởng và tên gọi của chúng.

Mặc dù chưa có sự thống nhất về số loài nhưng các tác giả đều phân chia thú linh trưởng Việt Nam thành 3 họ: họ Cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ 23 đến 25 loài. Trong các hệ thống phân loại thú linh trưởng thì hệ thống phân loại của Roos (2004) và Groves (2004) hiện đang được các nhà khoa học sử dụng rộng rãi nhất. Theo đó, số lượng các loài thú linh trưởng ở Việt Nam hiện có 24 loài thuộc 3 họ (xem bảng 1. download by : skknchat@gmail.2: Phân loại thú Linh trƣởng Việt Nam Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3 Khỉ cộc Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vượn đen hải nam Nomascus nasutus 22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vượn siki Nomascus siki 24 Vượn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) download by : skknchat@gmail.

Đặc điểm họ Vƣợn (Hylobatidae) Các loài vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á (Thomas geissmann et al. Các loài vượn đặc trưng bởi lối vận động, cấu trúc xã hội và thông tin liên lạc. Các loài vượn sống hoàn toàn trên cây và ăn quả là chủ yếu, sự đu tay tạo ra sự chuyển động đặc thù, tập tính treo thân độc đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên, thể hiện sự chuyên hóa cao độ đối với môi trường và chế độ ăn hàng ngày của chúng. Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm Symphalangus và Hylobates.

Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 (Thomas geissmann et al, 2000). Ở Việt Nam hiện chỉ có một giống vượn duy nhất là giống vượn mào (Nomascus) với số lượng thay đổi từ 5 đến 6 loài. Đặc điểm của giống Vượn mào (Nomascus) Những cá thể vượn mào hoang dã có khối lượng cơ thể trung bình là 7 - 8kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lượng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Thomas geissmann et al, 2000).

Các loài vượn mào có đặc điểm trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng, số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52. Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung download by : skknchat@gmail. Có sự lưỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thường có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tương tự như màu của con đực trưởng thành.

Đến thời gian trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của con cái trưởng thành (Grove, 2001). Các loài vượn ở Việt Nam và vùng phân bố của chúng Cũng giống như phân loại học về thú linh trưởng, các tác giả khác nhau cũng đưa ra sự phân chia khác nhau về số lượng loài thuộc giống Nomascus. Năm 2000, Thomas geissmann et al., đã phân chia vượn ở Việt Nam thành 5 loài và phân loài: 1. Vượn đen (chưa định tên) Nomascus.

Vượn đen tuyền (Nomascus concolor) 3. Vượn má trắng siki (N. gabriellae) Năm 2002, Phạm Nhật đã đưa ra quan điểm tương đối đồng nhất với Thomas geissmann với 5 loài và phân loài vượn ở nước ta. Tuy nhiên, loài Vượn đen hải nam (Nomascus concolor ssp) được thay cho Vượn đen (chưa định tên) và tên khoa học của Vượn đen tuyền là (Nomascus concolor concolor) thay cho (Nomascus concolor).

Năm 2004, Grove trong bảng phân loại thú linh trưởng vẫn giữ nguyên 5 loài vượn theo phân loại của Phạm Nhật. Tuy nhiên, tên khoa học một số loài đã có sự thay đổi (xem bảng 1. download by : skknchat@gmail.com 7 Năm 2009, Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh đã xây dựng danh lục thú Việt Nam. Đây là tài liệu cập nhật hiện nay về các loài thú trong cả nước với 322 loài thuộc 43 họ và 15 bộ.

Trong đó, họ Vượn có 5 loài thuộc 1 giống Nomascus đó là: 1. Vượn đen tuyền tây bắc (Nomascus concolor) 2. Vượn đen tuyền đông bắc (Nomascus nasutus) 3. Vượn siki (Nomascus siki) Năm 2010, Văn Ngọc Thịnh và các cộng sự thông qua tổng hợp các nghiên cứu mới nhất đã đưa ra kết luận có 6 loài vượn ở Việt Nam thuộc giống Nomascus.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ