Tài liệu: Luận văn thực trạng và hiệu quả ứng dụng tiếp cận sức khỏe sinh

Nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả áp dụng tiếp cận sức khỏe sinh thái trong công tác phòng chống sốt xuất huyết dengue tại Cát Bà Hải Phòng.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2015

151
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cách phân tích thực trạng và hiệu quả ứng dụng sức khỏe sinh thái phòng chống SXHD tại Cát Bà

Phân tích hiệu quả của các phương pháp tiếp cận dựa trên sức khỏe sinh thái giúp xác định các yếu tố sinh thái, sinh học và xã hội liên quan đến bệnh SXHD tại khu vực du lịch Cát Bà, Hải Phòng. Bài viết trình bày quy trình đánh giá dựa trên các số liệu thực địa, các mô hình can thiệp cộng đồng, và các biện pháp kiểm soát véc tơ hiệu quả, nhấn mạnh vai trò của môi trường và cộng đồng trong giảm nguy cơ lây truyền bệnh.

1.1. Phương pháp phân tích thực trạng bệnh SXHD và các yếu tố môi trường

Sử dụng dữ liệu dịch tễ, sinh thái, và xã hội để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của véc tơ truyền bệnh như muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus. Các chỉ số sinh thái như mật độ muỗi, ổ bọ gậy nguồn, và tác động của khí hậu như nhiệt độ, mưa, độ ẩm được phân tích nhằm xác định các yếu tố nguy cơ chính thúc đẩy dịch bệnh tại Cát Bà.

1.2. Đánh giá hiệu quả các mô hình kiểm soát véc tơ dựa trên cộng đồng

Nghiên cứu các mô hình cộng đồng ứng dụng biện pháp sinh thái, như thả cá ăn bọ gậy, dùng Mesocyclops, và các biện pháp giảm ổ nguồn sinh sản muỗi. Các số liệu giảm mật độ véc tơ, kiến thức, thái độ và thực hành của cộng đồng được đánh giá qua các công cụ giám sát và khảo sát định kỳ để xác định khả năng duy trì và mở rộng các biện pháp này trong thực tế.

II. Bí quyết nâng cao hiệu quả phòng chống SXHD bằng tiếp cận sức khỏe sinh thái tại Cát Bà

Phương pháp này hướng đến tích hợp các biện pháp sinh thái, cộng đồng, và chính sách để giảm tối đa nguồn sinh sản của muỗi truyền bệnh. Các chiến lược như kiểm soát ổ bọ gậy, thúc đẩy ý thức cộng đồng, và sử dụng tác nhân sinh học lý tưởng cho môi trường và kinh tế địa phương, góp phần làm giảm rõ rệt số ca mắc SXHD tại khu vực. Bài viết trình bày dữ liệu thực nghiệm về giảm mật độ véc tơ và tỷ lệ mắc bệnh sau khi triển khai các mô hình này.

2.1. Các biện pháp sinh thái cộng đồng trong kiểm soát muỗi truyền bệnh

Thả cá rô phi, Mesocyclops, và sử dụng rèm, bình đựng nước có nắp đậy đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong giảm ổ bọ gậy. Đồng thời, cộng đồng được tập huấn nâng cao khả năng tự chủ trong kiểm soát các nguồn nước đọng, tạo thành một nền tảng bền vững cho các hoạt động phòng chống từ phía địa phương.

2.2. Vai trò của chính sách và quản lý môi trường trong chiến lược này

Chính quyền thành phố Hải Phòng và ngành y tế địa phương phối hợp xây dựng chính sách hỗ trợ hoạt động của cộng đồng, duy trì các tiêu chuẩn kiểm soát khí hậu, vệ sinh môi trường, và kiểm dịch nguồn nước để hạn chế các điều kiện phát triển véc tơ.

III. Ứng dụng thành công các mô hình phòng chống SXHD dựa trên tiếp cận sinh thái tại Cát Bà

Các mô hình ứng dụng thực tế như thả cá làm sạch bọ gậy, thả muỗi mang Wolbachia, và dự án cộng đồng đều đạt được kết quả tích cực về giảm số ca mắc bệnh và mật độ véc tơ. Kết quả kiểm soát dịch bệnh rõ rệt, tỷ lệ mắc giảm từ 30% đến 60% sau khi thực hiện các mô hình này. Các số liệu đều nằm trong phạm vi dự kiến dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước, chứng minh tính khả thi cao của phương pháp tiếp cận sinh thái trong phòng chống SXHD.

3.1. Kết quả giảm mật độ véc tơ và tỷ lệ mắc SXHD trước và sau can thiệp

Sau các biện pháp kiểm soát sinh thái, mật độ muỗi và ổ bọ gậy giảm rõ rệt, có nhiều thời điểm không phát hiện muỗi truyền bệnh trong khu vực. Tỷ lệ mắc SXHD giảm trung bình 45%, từ mức 1.5/10.000 xuống còn 0.8/10.000 dân, thể hiện rõ hiệu quả của mô hình can thiệp dựa trên cộng đồng.

3.2. Tích hợp các biện pháp sinh thái để duy trì sự bền vững

Việc lồng ghép các hoạt động cộng đồng, chính sách kiểm soát khí hậu và môi trường đã giúp củng cố các biện pháp kiểm soát véc tơ, giảm thiểu khả năng tái phát dịch. Hợp tác liên ngành và thiết lập các quy trình giám sát định kỳ được xem là yếu tố then chốt để duy trì hiệu quả lâu dài.

IV. Tương lai và hướng phát triển của mô hình phòng chống SXHD bằng tiếp cận sinh thái

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, dịch bệnh có xu hướng diễn biến phức tạp, các mô hình dựa trên sức khỏe sinh thái cần phát triển bền vững, mở rộng quy mô, và áp dụng các công nghệ mới như công nghệ gen và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để dự báo, giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn. Chính sách toàn diện, hợp tác đa ngành, và sự tham gia cộng đồng vẫn là nền tảng để các chiến lược phòng chống bệnh có thể phát huy tối đa lợi ích trong tương lai.

4.1. Các hướng nghiên cứu và ứng dụng mới trong kiểm soát véc tơ SXHD

Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ gen, phát triển các loại muỗi mang Wolbachia, tích hợp mô hình dự báo khí hậu, và công nghệ sinh thái trong quản lý nguồn sinh sản véc tơ, nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát dịch bệnh trong dài hạn.

4.2. Chính sách và chiến lược phát triển bền vững dựa trên mô hình sinh thái

Xây dựng chính sách toàn diện, thúc đẩy hợp tác công - tư, và tăng cường vai trò cộng đồng trong quản lý và duy trì các hoạt động phòng chống dựa trên sinh thái nhằm đảm bảo bền vững và khả năng ứng phó với các thách thức mới trong kiểm soát SXHD.

13/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue Vụ dịch giống như sốt xuất huyết Dengue được biết cách đây đã hơn 3 thế kỷ ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Vụ dịch đầu tiên này được mô tả vào năm 1635 ở những vùng Tây Ấn Độ thuộc Pháp, trước đó khoảng đầu năm 992 sau Công Nguyên, đã có một bệnh tương tự SXHD cũng đã được ghi nhận tại Trung Quốc. Trong thế kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX, đã xảy ra những vụ dịch tương tự SXHD ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới và một số vùng có khí hậu ôn đới.

Năm 1780, có tác giả đã mô tả bệnh sốt gãy xương ở Philadelphia, có thể đây chính là bệnh SXHD ngày nay. Hầu hết các trường hợp bệnh của những vụ dịch này là SXHD thể nhẹ, cũng có trường hợp mắc SXHD thể nặng. Vụ dịch SXHD đầu tiên được ghi nhận ở Úc năm 1897. Một bệnh xuất huyết tương tự cũng được ghi nhận tại Hy Lạp năm 1928 và một vụ dịch ở Đài Loan năm 1931.

Tuy nhiên phải đến năm 1953-1954 thì một vụ dịch SXHD được ghi nhận đầu tiên ở Philippines. Từ đó, nhiều vụ dịch SXHD lớn đã xảy ra ở hầu hết các nước Đông Nam Á, với tỷ lệ tử vong cao, bao gồm cả Ấn Độ, Indonesia, Maldives, Myanma, Sri Lanka, Thái Lan và các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương như Singapore, Malaysia, New Caledonia, Palau, Philippines, Tahiti và Việt Nam. Qua 20 năm, tỷ lệ mắc và sự phân bố về mặt địa lý của SXHD tăng rõ rệt, và hiện nay, ở một số nước Đông Nam Á, các vụ dịch hầu như năm nào cũng xảy ra. Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và khu vực Đông Nam Á Hình 1.

Bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới năm 2010-2016 (nguồn Tổ chức y tế thế giới, 2016) Lịch sử cho thấy dịch Dengue đã xảy ra ở các vùng bán nhiệt đới và ôn đới, dịch thường bùng phát vào những tháng nóng. Trong các khu vực chịu ảnh hưởng của bệnh sốt xuất huyết Dengue, vùng có mức độ ảnh hưởng nặng nề nhất là Đông Nam Châu Á và Tây Thái Bình Dương, trong đó phải kể đến các nước có tỉ lệ chết và mắc cao trong những năm gần đây như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Lào và Campuchia. Từ năm 1960 đến 1988, chỉ tính riêng 8 quốc gia trong vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, đã nghi nhận trên 2 triệu người mắc sốt xuất huyết Dengue và gia tăng hàng năm [110][111][115]. 5 Trong vụ dịch SXHD năm 2015, ghi nhận 2.639 trường hợp mắc, chủ yếu tại Nam Mỹ (74,3%), có 1.

Số mắc và tử vong tại Brazil cao nhất khu vực với 1.932 trường hợp mắc, trong đó 811 trường hợp tử vong. Các nước ghi nhận số tử vong cao: Cộng hoà Dominica (89), Columbia (61), Peru (51)[110][111][115]. Mục tiêu của tổ chức y tế thế giới đến năm 2020, giảm tỉ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue xuống dưới 50% và tỉ lệ tử vong dưới 25% tính từ năm 2010. Để đạt được mục tiêu này thì kết quả huy động cộng đồng đã được xem là một chỉ số đánh giá được chứng minh từ nhiều nghiên cứu về sự thay đổi hành vi của người dân[89].

Tại khu vực Đông Nam Á, số mắc và tử vong do sốt xuất huyết Dengue đã tăng lên trong vòng từ 3-5 năm qua cùng với những vụ dịch xảy ra liên tiếp. Hơn nữa, tỷ lệ các trường hợp mắc bệnh trong tình trạng nặng ngày một tăng đặc biệt là Ấn Độ, Sri lanka và Myanma. SXHD gây khó khăn lớn nhất về y tế công cộng ở khu vực Đông Nam Á và có thể tóm lược một số đặc điểm SXHD tại khu vực này như sau: - Có tới 8 trong số 10 nước của khu vực bị SXHD nặng nề (70% số nước). - SXHD là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhập Viện và tử vong ở trẻ em tại các nước này.

- Tỷ lệ mắc SXHD trong khu vực tăng lên đáng kể trong vòng 17 năm qua; và từ năm 1980 - lại đây số mắc SXHD đã tăng lên gần gấp 5 lần so với 30 năm về trước. - Phạm vi nguy cơ mắc SXHD đang lan rộng ở từng nước và đang có thêm những nước mới trong khu vực có SXHD. - Trong năm 2019, SXHD đang có xu hướng lan rộng và thành dịch lớn tại một số nước như Lào, Campuchia và Thái Lan. Bản đồ phân bố ca mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình khu vực Đông Nam Á, 2003-2016 (nguồn Tổ chức y tế thế giới, 2016) Hình 1.

Bản đồ phân bố ca tử vong trung bình do sốt xuất huyết Dengue khu vực Đông Nam Á, 2003-2016 (nguồn Tổ chức y tế thế giới, 2016) 7 1. Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam Sốt xuất huyết Dengue là dịch bệnh lưu hành địa phương tại Việt Nam, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung và đồng bằng Bắc bộ. Do đặc điểm địa lý, khí hậu khác nhau, ở miền Nam và miền Trung bệnh xuất hiện quanh năm, ở miền Bắc và Tây Nguyên bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11. Hoàng Sa Trường Sa Hình 1.

Bản đồ tình hình SXHD tại Việt Nam, trung bình 2008-2016 (Nguồn: Báo cáo chương trình phòng chống SXHD quốc gia 2016) 8 Trước năm 1990, bệnh sốt xuất huyết Dengue mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét, với khoảng cách trung bình 3 - 4 năm. Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục với cường độ và quy mô ngày một gia tăng. Vụ dịch xảy ra vào năm 1987, đã có 354000 trường hợp mắc và hơn1500 trường hợp tử vong [50]. Sau đó trận dịch lớn thứ hai vào năm 1998, cả nước ghi nhận số trường hợp mắc là 234920 và 377 trường hợp tử vong, tỉ lệ mắc/100.000 dân là 306 và tỉ lệ chết/mắc là 0,19%.

Giai đoạn từ 1999-2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm chỉ còn 36826 ca mắc và tử vong trung bình là 66 trường hợp [16][9]. Tương tự các nước trong khu vực, Việt Nam có số ca mắc và chết do sốt xuất huyết Dengue cũng có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây. Năm 2007, số mắc và tử vong tăng cao trở lại kể từ sau vụ dịch năm 1998. Năm 2010, đã xảy ra nhiều vụ dịch, ghi nhận 128710 trường hợp mắc và tử vong 109 trường hợp, số mắc và tử vong tăng cao so với vụ dịch năm 2007 [16].

Từ 2011- 2013, số ca mắc và tử vong giảm xuống theo qui luật chung do miễn dịch cộng đồng sau vụ dịch năm 2010. Hiện nay, sốt xuất huyết Dengue là một trong 10 bệnh truyền nhiễm có tỉ lệ mắc và tử vong cao nhất, dân số trong vùng sốt xuất huyết Dengue lưu hành có nguy cơ mắc bệnh khoảng 70 triệu người [9][48][16]. Trong 10 năm gần đây, năm 2010 có số mắc cao nhất với 128.710 trường hợp mắc, 109 tử vong. Số mắc giảm dần qua các năm[33][16].

Bệnh SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và có sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam. Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu Á nhiệt đới, bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của muỗi Aedes. Bệnh phát triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao vào tháng 9 và 10. Ở miền Nam và nam Trung bộ, bệnh SXHD xuất hiện trong suốt năm với 9 tần số mắc nhiều hơn từ tháng 4 đến tháng 11 và đỉnh cao vào những tháng 8, 9, 10 và 11[3][4].

Tuổi mắc bệnh cũng có sự khác biệt giữa các miền liên quan đến mức độ lưu hành cao hay thấp của các vùng. Ở miền Bắc, nơi ghi nhận ca bệnh có tỷ lệ thấp hơn các khu vực khác cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chủ yếu là người lớn trên 15 tuổi. Nhưng ở miền Nam, nơi có bệnh lưu hành rất cao thì lứa tuổi mắc bệnh phần lớn là trẻ em. Nhóm trẻ dưới 15 tuổi bị mắc bệnh được thống kê trong giai đoạn 20012 - 2018 cho thấy tại miền Bắc chiếm 20%, miền Trung 64,6%, Tây nguyên 62,3% và miền Nam 95,7%[11][40][34][18].

Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Hải Phòng và huyện Cát Hải Thành phố Hải Phòng nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam là một trong ba trọng điểm tăng trưởng ở phía Bắc trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tình hình dịch bệnh tại Hải Phòng cũng khá phức tạp. Trong những năm gần đây, hầu như năm nào Hải Phòng cũng có các dịch bệnh xảy ra với số mắc cao (Tả: 2008, 2009; SXHD: 2009, 2013; Cúm AH1N1: 2009; Tay- chân-miệng: 2011, 2012, 2013 ; Liên cầu lợn 2010-2013; Sốt phát ban nghi Sởi-Rubella 2014). Từ 1998 - nay, Dự án phòng chống sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại Hải Phòng đã triển khai trên tất cả các quận/huyện, xã/phường; trong đó có 225/225 xã, phường thực hiện giám sát người bệnh và giám sát huyết thanh lồng ghép với giám sát các bệnh truyền nhễm khác, 21/225 xã, phường trọng điểm thuộc 15 quận, huyện thực hiện giám sát véc tơ thường quy.

Số lượng người bệnh mắc giảm dần theo các năm từ 1998-2008 sau đó lại có xu hướng tăng dần từ năm 2009-2015[10]. Bốn vụ dịch lớn xảy ra tại Hải Phòng vào năm 2001 (285 ca), 2009 (271 ca), 2013 (321 ca) và 2017 (1001 ca). Từ 1999 đến 2008, người bệnh SXHD tập trung tại 3 quận nội thành, tuy nhiên 10 bắt đầu từ năm 2009 tới nay trọng điểm SXHD lại tập trung ở Huyện đảo du lịch Cát Hải (trong đó tỷ lệ người bệnh cao tập trung ở đảo du lịch Cát Bà). Tính đến tháng 6/2019, tại Hải Phòng đã ghi nhận 327 ca mắc, tại huyện Cát Hải ghi nhận mới 4 trường hợp được ghi nhận trong đó có 1 dương tính (Bảng1.

Huyện đảo Cát Hải là đảo xa đất liền và với địa hình được bao quanh chủ yếu là núi đá, độ cứng của nước máy rất cao nên tại đây, hầu như các hộ gia đình phải trữ nước mưa trong bể hoặc các loại dụng cụ chứa nước khác để dung trong ăn uống. Nguy cơ lây nhiễm SXHD của cộng đồng tại đây rất cao vì du lịch làm tăng cường sự giao lưu của nhiều người từ rất nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam, trong đó nhiều người có thể đang mang virus Dengue hay nhiều loại tác nhân gây bệnh do véc tơ truyền. Tại địa phương, với sự sẵn có các véc tơ truyền bệnh, khả năng lan truyền bệnh SXHD là rất lớn cho cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ