MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề thực hiện Rừng là một nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, là lá phổi xanh của trái đất, rừng đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người và mọi sự sống trên trái đất. Rừng là nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường sống, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống nhân dân, Rừng có vai trò cung cấp lâm sản, đặc sản ngoài gỗ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội trước hết là cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho nhu cầu chung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, cung cấp dược liệu quý phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe con người. Ngoài gia rừng còn có vai trò to lớn là giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, điều hòa khí hậu, chống xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất, giảm thiểu lũ… Ngoài giá trị về kinh tế, môi trường, rừng còn có ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên, du lịch văn hoá, danh lam thắng cảnh, góp phần bảo vệ quốc phòng an ninh.
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa là một trong nhưng quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với sự đa dạng về chủng loại, phong phú về thành phần động thực vật. Tuy nhiên chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế rất đáng lo ngại đó là sức ép về diện tích đất canh tác ngày càng tăng đối với rừng. Mỗi năm trên thế giới có hàng triệu ha rừng bị tàn phá nghiêm trọng, nhiều loài động thực vật đã vĩnh viễn mất đi, nguồn gen các loài động thực vật quý hiếm ngày càng cạn kiệt. Hiện nay diện tích rừng nước ta đã suy giảm đáng kể do nhiều nguyên nhân: dân số tăng nhanh, nạn khai thác chặt phá rừng bừa bãi, tập quán canh tác của người dân.
Sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng. Những biến đổi này đã làm cho môi trường bị ô nhiễm, sự nóng lên của trái đất, biến đổi khí hậu và nhiều sự biến đổi khác mà con người không thể kiểm soát được. Những năm gần đây, tình trạng phá rừng xảy ra h 2 ngày một nhiều với các hành vi, thủ đoạn tinh vi làm nghèo tài nguyên rừng. Việc bảo vệ rừng khó khăn, cơ chế chính sách trong quản lý, khai thác còn nhiều bất cập.
Nâng cao chất lượng rừng, ngăn chặn nạn phá rừng là việc làm cấp bách hiện nay. Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng. Do vậy công tác quản lí và bảo vệ rừng và nâng cao nhận thức,hiểu biết của người dân là hết sức quan trọng. Để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, Ngày 04/10/2007 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN, quy định về nhiệm vụ công chức Kiểm lâm địa bàn xã (thay thế Quyết định số 105/2000/QĐ-BNN ngày 17/10/2000), với phương châm "Kiểm lâm bám dân, bám rừng, bám chính quyền cơ sở” để tham mưu giúp chính quyền cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 23/NĐ-CP ngày 23/3/2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng.
Mục tiêu nhằm nâng cao năng lực Kiểm lâm viên, làm thay đổi căn bản công tác bảo vệ rừng, chuyển hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong khâu lưu thông sang tổ chức bảo vệ rừng tận gốc, giám sát nơi tiêu thụ, chế biến lâm sản; nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng; nâng cao nhận thức của nhân dân để tham gia bảo vệ và phát triển rừng; giúp người làm kinh tế rừng yên tâm đầu tư góp phần làm tăng độ che phủ của rừng. Kiểm lâm viên có vai trò quan trọng là cầu nối giữa lực lượng Kiểm lâm với Kiểm lâm địa bàn và người dân một phần không thể thiếu trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Để bổ trợ cho những kiến thức đã học tại trường và để hiểu rõ hơn công tác quản lý bảo vệ rừng của Kiểm lâm viên nên em đã chọn đề tài: “Thực hiện chức trách, nhiệm vụ một Kiểm lâm viên tại hạt Kiểm lâm huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng ”. Mục tiêu và yêu cầu của sinh viên thực hiện - Xác định được việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được hạt Kiểm lâm giao: Quá trình tổ chức và kết quả tuần tra và xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm Nghiệp… - Đánh giá được thực trạng và vai trò hoạt động của Kiểm lâm viên huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng - Rút ra một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện chức trách Kiểm lâm viên tại khu vực hạt Kiểm lâm quản lý - Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm viên góp phần phát triển tài nguyên rừng.
- Tham gia và trải nghiệm là một kiểm lâm cơ động kỹ thuật - Viết báo cáo kết quả và rút ra một số bài học và trong thực hiện chức trách, nghiệm vụ của một kiểm lâm viên tại Hạt kiểm lâm huyện Hà Quảng h 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ THỰC HIỆN 2. Cơ sở lý luận của đề tài Công việc của Kiểm lâm cấp huyện (Hạt Kiểm lâm) rất quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn sự đa dạng của động, thực vật tại địa phương. Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền cơ sở và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng, hỗ trợ nâng cao đời sống người dân. Thực hiện tốt công tác theo dõi cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, kiểm tra giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến lâm sản; hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức hộ gia đình và cá nhân trong việc gây nuôi động vật hoang dã theo qui định.
Kiểm lâm địa bàn có điểm mạnh là thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, nắm bắt được các đối tượng thường xuyên phá rừng để vận động ký cam kết không vi phạm hoặc phân loại đối tượng để tham mưu cho chính quyền có biện pháp xử lý phù hợp. Kiểm lâm địa bàn đã áp dụng nhiều biện pháp như phối hợp tổ chức các đợt tuần tra, truy quét ở các điểm phá rừng, bao chiếm đất rừng trái phép, ngăn chặn chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp ngoài quy hoạch, đề nghị cấp có thẩm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng. Kiểm lâm viên cấp huyện: 1. Được Hạt trưởng phân công chỉ đạo và thực hiện một số công việc, giúp Hạt trưởng chỉ đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên.
Có trách nhiệm kiểm tra đôn đốc các đồng chí cán bộ Kiểm lâm địa bàn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao (thực hiện theo Quyết định số 83/QĐ- BNN ngày 04/10/2007 của Bộ NNPTNT). Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn. Xây dựng kế hoạch và nội dung tập huấn nghiệp vụ chuyên môn Quản lý rừng và bảo tồn thiên nhiên cho cán bộ Kiểm lâm hàng năm, thường xuyên đi cơ sở để kiểm tra nắm tình hình về công tác QLBVR. Kiểm tra chấp hành luật bảo vệ và phát triển rừng.
Thay mặt Hạt trưởng giải quyết công việc khi Hạt trưởng đi vắng, phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước Hạt trưởng về những quyết định của mình được Hạt trưởng giao. Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định. Khái niệm về Quản lý, Quản lý rừng bền vững - Quản lý: Quản lý là việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý, giám sát quá trình phát triển nhằm đảm bảo cho công việc hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của công việc và các mục đích đề ra. Quản lý được hiểu theo hai góc độ,một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị và xã hội, hai là góc độ mang tính hành động thiết thực.Mác coi là chức năng đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động.
“ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật,đạt được mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý” Nếu xét về góc độ của một tổ chức “Quản lý là một quá trình nhằm đề đạt được các mực đích của một số tổ chức thông qua việc thực hiện các chức năng cơ bản là kế hoạch hóa, tổ chức, điều hành và kiểm tra đánh giá” (Suranat,1993). Từ các định nghĩa trên có thể khái quát về quản lý: Quản lý là tiến trình tổ chức và sử dựng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong công tác quản lý có nhiều yếu tố tác động, nhưng đặc biệt có 5 yếu tố quan trọng nhất: Yếu tố con người, yếu tố chính trị, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền lực và yếu tố thông tin. h 6 - Khái niệm về Quản lý rừng bền vững: Quản lý rừng bền vững là phương thức quản trị rừng bảo đảm đạt được các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, không làm suy giảm các giá trị và nâng cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh.
Nhằm đáp ứng mục tiêu quản lý, phát triển bền vững, Nhà nước quy định 9 nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp là: 1. Chặt, phá, khai thác, lấn, chiếm rừng trái quy định của pháp luật. Đưa chất thải, hóa chất độc, chất nổ, chất cháy, chất dễ cháy, công cụ, phương tiện vào rừng trái quy định của pháp luật; chăn, dắt, thả gia súc, vật nuôi vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng, rừng mới trồng. Săn, bắt, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán động vật rừng, thu thập mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng trái quy định của pháp luật.
Hủy hoại tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng, công trình bảo vệ và phát triển rừng.