chương 1, bao gồm: Thiết kế nghiên c ứu, tổng th ể c ủa nghiên cứu, nguồn dữ liệu, các công cụ nghiên cứu cơ bản, các biến x ử lý được sử dụng trong nghiên cứu. 6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Thông tin về mẫu nghiên cứu, dựa vào kết quả khảo sát, tổng hợp các số liệu thu thập, làm sạch d ữ li ệu, sau đó dùng phần mềm SPSS phiên bản 20 chạy mô hình ứng dụng. Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tác động đến ý định chọn cơ quan hành chính nhà nước để làm việc của sinh viên năm cuối ở các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bước kiểm định đánh giá thang đo và đưa ra kết quả đo lường các yếu tố. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này đánh giá lại kết quả nghiên cứu của đề tài, qua đó đề xuất các chính sách nh ằm làm t ốt h ơn công tác quản lý nhân sự của cơ quan hành chính nhà n ước. Nêu các h ạn chế của nghiên cứu cũng như định hướng nghiên cứu tiếp theo.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương hai thực hiện việc xem xét tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện về ý định chọn cơ quan hành chính Nhà nước làm việc cùng các yếu tố khác có liên quan, có ảnh hưởng đến ý định chọn c ơ quan hành chính Nhà nước làm việc làm cơ sở cho việc thiết kế mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN Cơ quan hành chính Nhà nước: cơ quan hành chính nhà nước là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước được thành lập theo hi ến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội một cách chủ yếu, thường xuyên và liên tục (Giáo trình Luật hành chính Việt Nam). Công chức: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng s ản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong c ơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, h ạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đ ơn v ị s ự nghi ệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong b ộ máy lãnh đ ạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp lu ật (Lu ật Cán bộ, công chức năm 2008). Ý định và Ý định làm việc 8 Ý định bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng ho ặc n ổ l ực mà m ỗi cá nhân phải bỏ ra để thực hiện hành vi (Đại từ điển tiếng Việt, 1998). Ý định là việc sự rắp tâm làm việc gì đó, nó khác với dự định hay dự kiến.
Dự định là định làm sẽ làm việc gì đó nếu không có gì thay đổi và như vậy nếu có biến cố xảy ra thì dự định đó có thể sẽ không đ ược th ực hi ện, còn dự kiến là thấy trước được điều có nhiều khả năng xảy ra hay chu ẩn bị trước về một vấn đề gì đó (Nguyễn Anh Việt, 2015). Ý định là ý muốn và những dự định về một việc gì đó (Đ ại t ừ đi ển tiếng Việt, 1998). Yếu tố là thành phần, bộ phận tạo thành sự vật, sự việc, hiện tượng (Đại từ điển tiếng Việt, 1998). Từ đó cho thấy ý định làm việc ở cơ quan hành chính nhà n ước là ý muốn và dự định chủ quan của một người phải làm và cơ quan hành chính nhà nước là một nơi sẽ được chọn để làm việc.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Thuyết hành động hợp lý được xây dựng từ cuối thập niên 60 c ủa thế kỷ 20, thuyết hành vi hợp lý xác định yếu tố quan trọng nh ất quy ết định hành vi của con người là ý định thực hiện hành vi đó, là ý muốn thực hiện hành vi cụ thể nào đó.
Ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố: thái độ của một con người về hành vi và chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw (1989), trích trong Chutter M. (2009)] 10 Từ lý thuyết trên, vận dụng vào nghiên cứu về ý định chọn cơ quan hành chính nhà nước làm việc của sinh viên năm cuối đại h ọc. Ý đ ịnh l ựa chọn bị ảnh hưởng bởi yếu tố hành vi và chuẩn chủ quan, niềm tin, mức độ ảnh hưởng và sự thúc đẩy làm theo ý muốn của cá nhân khi chọn cơ quan hành chính nhà nước làm việc. Highhouse và ctg (2003) nghiên cứu cho thấy có ba thành ph ần chính ảnh hưởng đến sự thu hút của một tổ chức đối với ứng viên theo mô hình sau: Hình 2.2 Ba thành phần chính ảnh hưởng đến sự thu hút của một tổ chức Nguồn: Highhouse và ctg (2003) Từ lý thuyết trên, vận dụng vào nghiên cứu này để t ạo s ự thu hút sinh viên năm cuối vào làm việc tại cơ quan hành chính nhà n ước c ần có các chính sách tạo sự hấp dẫn, thu hút sinh viên khi t ốt nghi ệp vào làm việc.
Theo Esters và Bowen (2005) thì cựu sinh viên trong nghiên cứu cho biết cha mẹ và bạn bè của họ là cá nhân có ảnh hưởng nhất đến sự l ựa chọn của họ về sự nghiệp. Như vậy, theo mô hình lý thuyết TRA thì ý định c ủa m ột ng ười lao động sẽ tác động đến quyết định của họ khi chọn một cơ quan hành chính nào đó để xin việc. Tuy nhiên, ý định đó lại bị tác động bởi thái độ và chuẩn mực chủ quan của họ nếu người lao động làm việc cho cơ quan hành chính 11 nhà nước là tốt, có nhiều điều hay, có những yếu tố thu hút thì có nh ững tác động đến ý định của họ. Bên cạnh đó, nhận thức về thái độ của những người xung quanh là nên hay không nên làm cho cơ quan hành chính nhà nước cũng là cơ sở cho việc hình thành ý định này.
Nếu người tìm việc cho rằng không có yếu tố nào hấp dẫn khi làm cho cơ quan hành chính nhà nước hay nghĩa rằng những người khác sẽ không tán đ ồng vi ệc mình làm cho cơ quan hành chính nhà nước thì họ sẽ từ bỏ ý định vào làm cho c ơ quan hành chính nhà nước (Nguyễn Anh Việt, 2015).2 Lý thuyết hành vi được hoạch định (Theory of Planned Behavior-TPB) Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển cải ti ến c ủa thuyết hành động hợp lý. Thuyết hành vi dự định xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát dù động cơ của đ ối t ượng là r ất cao từ thái độ và tiêu chuẩn chủ quan nhưng trong một số trường hợp họ vẫn không thực hiện hành vi vì có các tác động của điều kiện bên ngoài lên ý định hành vi. Lý thuyết này đã được Ajzen bổ sung từ năm 1991 b ằng việc đề ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức. Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn chỉ thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không.
Theo mô hình TPB, động cơ hay ý định là nhân tố thúc đ ẩy c ơ b ản của hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng. Động cơ hay ý định bị dẫn dắt bởi ba tiền tố cơ bản là thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức (Nguyễn Anh Việt, 2015). Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố. Thứ nh ất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực v ề hành vi th ực hiện.
Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã h ội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó (Tạp chí sinh 12 viên, trường Đại học kinh tế quốc dân). Cuối cùng, thuyết hành vi dự định TPB được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA. Thành phần kiểm soát hành vi c ảm nh ận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; đi ều này ph ụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Ajzen đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động tr ực ti ếp đ ến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn d ự báo c ả hành vi (Nguyễn Anh Việt, 2015).3 Thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn:Ajzen (1991), 25, tr.
182 Lý thuyết này được sử dụng trong nghiên cứu này là niềm tin và thái độ đối với hành vi, nhận thức và kiểm soát hành vi, cho th ấy nh ững khía cạnh khác nhau của hành vi để phục vụ cho việc gia tăng kiểm soát, những can thiệp hiệu quả trong việc thực hiện ý định c ủa cá nhân (Nguy ễn Anh Việt, 2015). Lý thuyết TBP bổ sung thêm vấn đề là liệu cá nhân đó có đủ niềm tin để thực hiện hành vi đó hay không. Họ tin rằng họ có đủ năng lực để được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước khi nộp đơn. Hai lý thuyết này cho ta cơ sở để nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến ý định của người làm 13 việc là cơ sở cho quyết định của họ khi nộp đơn xin việc vào cơ quan hành chính nhà nước (Nguyễn Anh Việt, 2015).