Chương 1 trình bày một số nội dung cơ bản: Tổng quan, lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đôi tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của dé tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 2 trình bày một số nội dung: Các khái niệm, các yếu tố làm lại ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc trong các dự án xây dựng từ các nghiên cứu trước, giả thuyết và mô hình nghiên cứu, tóm tắt chương 2. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày một số nội dung: Quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thiết kế thang đo, cỡ mẫu, kỹ thuật xử lý dữ liệu, tóm tắt chương 3. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày các cách thức phân tích số liệu băng phần mềm SPSS như: kiểm định thang do, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy.
Từ đó nhận dạng các yếu tố làm lại tác động đến kết quả thực hiện công việc trong các dự án xây dựng ở Lâm Dong. Tóm tắt chương 4. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương 5 trình bày một số nội dung: các kết quả nghiên cứu chính, hàm ý quản trị, những đóng góp của nghiên cứu, các hạn chê và hướng nghiên cứu tiép theo. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET 2.1 Khái niệm về dự án xây dựng 2.1 Các thuật ngữ Theo PMBOK Guide 2000 (trích trong Cao Hao Thi, 2006), du dn là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ duy nhất.
Tạm thời nghĩa là mọi dự án đều có một thời gian kết thúc xác định. Duy nhất có nghĩa là sản phẩm hay dich vụ là khác nhau trong một số cách phân biệt từ tất cả các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự. Theo luật xây dựng Việt Nam (2003), dv án là tập hợp các dé xuất dé thực hiện một phan hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định. Công trình xây dựng là sản pham được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thé bao gồm phan dưới mặt đất, phan trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phan trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác (theo Luật xây dựng Việt Nam, 2003). Thiết bị lắp đặt vào công trình bao gồm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ. Thiết bị công trình là các thiết bị được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế xây dựng. Thiết bị công nghệ là các thiết bị nằm trong dây chuyển công nghệ được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ (theo Luật xây dựng Việt Nam, 2003).
Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa; công trình giáo dục, công trình y tế, công trình thương nghiệp, dịch vụ; nhà làm việc, khách sạn, nhà khách; nhà phục vụ giao thông, nhà phục vụ thông tin liên lạc, tháp thu phát sóng phát thanh, phát sóng truyền hình; nhà ga, bến xe, công trình thể thao các loại (theo Luật xây dựng Việt Nam, 2003). Như vậy có thé hiểu một dự án xây dựng gồm 3 tiêu chí chủ yếu sau: Quy mô, kinh phí và thời gian thực hiện. Quy mô thé hiện khối lượng và chất lượng của công việc thực hiện dự án. Một dự án hoàn thành khi khối lượng hoàn thành và chất lượng phải được đảm bảo.
Còn tiêu chí thứ hai kinh phí chính là vốn bỏ ra dé xây dựng công trình. Một dự án sẽ không thành công nếu thiếu vốn. Tiêu chí thứ ba thời gian rất cần thiết để thực hiện dự án, thể hiện trình tự trước sau của các công việc thực hiện và thời gian hoàn thành dự án, nhưng thời gian còn đồng nghĩa với cơ hội và rủi ro của dự án. Vì vậy, đây cũng là một đặc điểm rất quan trọng cần phải được quan tâm.2 Các thuộc tinh chung của dự án Các dự án đều có đặc điểm chung như sau: - Dự án có mục đích, kết quả rõ ràng: Tất cả các dự án thành công đều phải có kết quả được xác định ro rang.
Mỗi dự án bao gồm tập hợp các nhiệm vụ cần thực hiện, mỗi nhiệm vụ cụ thể này khi thực hiện sẽ thu được kết quả độc lập và tập hợp các kết quả đó tạo thành kết quả chung của dự án. Các kết quả này có thể theo dõi, đánh giá băng hệ thống các tiêu chí rõ ràng. Nói cách khác, dự án bao gdm nhiều hợp phân khác nhau được quản lý, thực hiện trên cơ sở đảm bao thống nhất các chỉ tiêu về thời gian, chi phí và chất lượng. - Thoi gian tôn tại của dự án có tính hữu hạn: Dự án trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển và kết thúc hoàn thành.
Nó không kéo dài mãi mãi, khi dự án kết thúc hoàn thành, kết quả dự án được chuyển giao, đưa vào khai thác, sử dụng, tô chức dự án giải tán. - Sản phẩm, kết quả của dự dn mang tính độc đáo, mới lạ: Khác với quá trình sản xuất liên tục, có tính dây chuyên, lặp đi lặp lại, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính mới, thể hiện sức sáng tạo của con người. Do đó sản phẩm và dịch vụ thu được từ dự án là duy nhất, hầu như khác biệt so với các sản phẩm cùng loại. Tuy nhiên trong nhiều dự án, tính duy nhất thường khó nhận ra.
Vì vậy môi dự án cân phải tạo ra những giá trị mới chăng hạn thiệt kê khác nhau, môi trường triển khai khác nhau, đối tượng sử dụng khác nhau.Từ đó cho thấy nếu 2 dự án hoàn toàn giống nhau và không tạo được giá tri nào mới, nó thể hiện sự dau tư trùng lặp, gây lãng phi, đây là tinh trạng phổ biến của các dự án xây dựng. - Dự án liên quan đến nhiều bên: Dự án cũng tham gia của nhiều bên như: chủ dau tư, khách hàng, các nhà tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng và nhiều trường hợp có cả cơ quản lý của nhà nước đối với các dự án sử dụng nguồn vốn có nguon gốc từ ngân sách nhà nước. Tuy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phân trên có sự khác nhau. Dé thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quan lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác.
- Dự án thường mang tính không chắc chan: Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật liệu và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn, nghĩa là có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Nếu thời gian đầu tư và vận hành kéo dài thường xuất hiện nguy cơ rủi ro rất cao. - Luôn luôn ton tại mâu thuân: Do tính chất của môi trường dự án luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau vé cả tiền vốn, thiết bị. Đặc biệt, trong một sỐ trường hợp thành viên ban dự án có 2 thủ trưởng nên không biết thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào khi mà hai mệnh lệnh có tính mâu thuẫn.
Từ đó thấy rằng môi trường dự án có nhiều mỗi quan hệ phức tạp nhưng hết sức năng động.3 Các giai doan của dự án Một dự án đầu tư xây dựng trai qua 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, vận hành kết quả. Giai đoạn chuan | Giai doan thuc | Giai doan van hanh bi dau tu | hiện dau tư | kết quả đầu tư Khao sat, tim Đên bù, giải kiém cơ hội đầu tu phóng mặt băng thác bán sản | Thiét kê và xác định tông mức dau tư Mời thâu và ky kêt hợp đông Xác định tông ¡ công công trình mức đầu tư sơ bộ và nghiệm thu, quyết toán công trình Hình 2.1: Các giai đoạn của dự án đầu tư xây dung 2.2 Khái niệm làm lại Có nhiều khái niệm về làm lại: Theo Construction Industry Development Agency (1995), làm lại là thực hiện một việc gì đó ít nhất hơn một lần do không tuân theo yêu cau. Theo Ashford (1992), làm lại là quá trình một công việc được thực hiện để đáp ứng với mục tiêu ban đầu bằng cách bồ sung hay hiệu chỉnh. Theo Love and Li (2000), làm lại là những nỗ lực phụ trong việc thực hiện lại một quá trình hay hoạt động mà nó không chính xác trong lần thực hiện đầu tiên.
Theo Josephson, Larsson and Li (2002), làm lại là những nỗ lực phụ trong việc sửa lỗi ở công trình xây dựng. 10 Theo Love (2002) cho rằng làm lại là quá trình hay sự kiện gây ra bởi: độ lệch, các lỗi, những van đề chất lượng không đủ tiêu chuẩn hay những sự cố chất lượng. Theo Good Manufacture Practice (2010), làm lại đề cập đến việc sản xuất một sản pham mà không thoả các tiêu chuẩn chất lượng của quy trình ban hành. Tóm lại, qua các khái niệm trên, ta thấy nguyên nhân của làm lại trong xây dựng là do: không tuân theo yêu cau, sai lầm trong quá trình thực hiện, kết qua bị lỗi hay lệch, chất lượng không đảm bảo so với quy trình ban hành.
Trong một dự án xây dựng có nhiều bộ phận như: bộ phận chủ đầu tư, bộ phận thiết kế, bộ phận thi công (bao gồm nhà thầu chính va nhà thầu phụ). Việc lam lai mà ta xét đến ở đây có thé là lam lại một phần công việc, một hạng mục công việc, một gói công việc hay toàn bộ công việc trong dự án ở tất cả các bộ phận. Việc làm lại này xảy ra trong suốt quá trình thực hiện dự án từ giai đoạn chuẩn bị dau tr đến giai đoạn vận hành kết quả.3 Khái niệm yếu tố làm lại Yêu tô làm lai trong nghiên cứu này có thê hiệu là yêu tô hay nguyên nhân dân đền làm lại một công việc, một hạng mục công việc, một gói công việc nào đó trong dự án xây dựng. Việc làm lại này có thê xảy ra ở các bộ phận như: bộ phận chủ đâu tư, bộ phận thiết kế, bộ phận thi công.4 Kết quả thực hiện công việc trong dự án xây dựng Kết quả thực hiện công việc phản ánh toàn bộ đầu ra của một quá trình thực hiện công việc theo thời gian.
Kết quả có thé thành công hay that bại.