Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 2: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH BẢO HIỂM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.
Khái quát chung về ngành bảo hiểm 1. Khái niệm Bảo hiểm Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ thì Bảo hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao những rủi ro gây ra chúng cho những người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro. Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì Bảo hiểm là sự thoả thuận qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm.
Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất không mong đợi. Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp, các tập đoàn thương mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức, chuyển nhượng rủi ro cho DNBH, doanh nghiệp đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Có thể nói, các khái niệm trên đã lột tả được bản chất của bảo hiểm trên các khía cạnh về rủi ro. Sự chuyển giao rủi ro giữa DNBH và người được bảo 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiểm thông qua phí bảo hiểm và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểm gặp rủi ro tổn thất.
Và một cách đơn giản, bảo hiểm chính là một cách xử lý rủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro trong từng nhóm người được thực hiện qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) của các tổ chức bảo hiểm. Vai trò của ngành Bảo hiểm trong nền kinh tế quốc dân Vai trò kinh tế - xã hội của bảo hiểm được ghi nhận ở tất cả các quốc gia trên thế giới bởi những đóng góp dưới đây: Bảo hiểm đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm càng phát triền thì doanh thu phí từ bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT), bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và hoạt động đầu tư sẽ đóng góp vào GDP của cả nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bảo hiểm huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Do sự đảo ngược của chu trình kinh doanh sản phẩm trong KDBH (phí bảo hiểm phải thu trước; bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm chỉ thực hiện sau một thời gian) khiến phần lớn lượng tiền mà DNBH tập trung được từ phí bảo hiểm có thời gian tạm thời nhàn rỗi. Các DNBH vẫn sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó để đầu tư vào nhiều lĩnh vực và chủ yếu là đầu tư gián tiếp trên thị trường tài chính, nhất là thị trường chứng khoán.
Hoạt động đầu tư tích cực của các DNBH còn có tác dụng tăng quy mô và độ linh hoạt của thị trường tài chính, kích thích các luồng vốn vận động theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng tính khả thi của những dự án lớn, nâng cao hiệu quả của việc phân bố các nguồn lực tài chính có hạn trong nền kinh tế. Đóng góp cho sự ổn định kinh tế - xã hội Rủi ro mang đến những thiệt hại tài chính bất thường cho các cá nhân, tổ chức. Một căn nhà bị hoả hoạn, một người trụ cột trong gia đình bị tai nạn và chết, một con tàu bị mất tích… đều mang đến những kết cục bất hạnh và đi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đôi là khó khăn tài chính. Hơn lúc nào hết, các cá nhân, tổ chức cần đến nguồn tài chính kịp thời để bù lại thiệt hại, lấy lại sự cân bằng, ổn định tình hình tài chính.
Sự có mặt của các DNBH đã đáp ứng nhu cầu đó một cách nhanh nhất. Hơn nữa, vượt lên ý nghĩa “tiền bạc”, bảo hiểm mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho người được bảo hiểm. Vai trò này được thể hiện ở các khía cạnh khác như là: giảm sức ép đối với hệ thống phúc lợi xã hội, hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển. Tạo việc làm cho xã hội Ngành bảo hiểm đã thu hút một lực lượng lớn lao động làm việc tại các DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và các nghề nghiệp liên quan như đánh giá rủi ro, giám định tổn thất, định giá tài sản, giám định sức khỏe…trong điều kiện thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển ngành bảo hiểm vẫn được coi là còn nhiều tiềm năng ở các quốc gia, góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm cũng như các vấn đề xã hội có liên quan.
Năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo Hội đồng về năng lực cạnh tranh của Hoa Kỳ: Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của nền sản xuất, của một nước có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi sức sống của dân chúng nước ấy có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài. Khái niệm này tuy lột tả được được tính cạnh tranh nhưng lại bị bó hẹp về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, chưa nhấn mạnh đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành. Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại, năng lực cạnh tranh là Năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế.
Khái niệm này đã bao quát được năng lực cạnh tranh của các cấp độ nhưng diễn tả cụm từ “cạnh tranh” chưa rõ ràng. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (The OECD High Level Forum on Industrial Competitiveness) đã lựa chọn một khaí niệm cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Như vậy, mỗi một khái niệm đều có mặt ưu điểm và nhược điểm riêng, nhưng khái niệm của OECD là hoàn thiện nhất khi nêu được chủ thể cạnh tranh và cụm từ cạnh tranh. Như vậy, năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm là khả năng ngành bảo hiểm của một quốc gia có khả năng giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh để tạo ra thu nhập và việc làm cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm Trong lĩnh vực bảo hiểm, trên thế giới hiện nay chưa có một phương pháp luận chung để đánh giá năng lực cạnh tranh của DNBH hay của ngành bảo hiểm. Do vậy, để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành bảo hiểm, luận văn lựa chọn một số tiêu chí theo hệ thống CARAMELS như sau: 1. Tổng tài sản của ngành Tổng tài sản của ngành là tổng tài sản có của các doanh nghiệp trong ngành. Tiêu chí này phản ánh “sức khỏe” của các doanh nghiệp cũng như toàn ngành.
Tổng tài sản như là tấm đệm để đảm bảo cho mỗi ngành có khả năng chống đỡ trước những rủi ro trong hoạt động bảo hiểm cũng như rủi ro từ môi trường kinh doanh và môi trường tự nhiên. Tổng tài sản càng lớn thì các doanh nghiệp càng có khả năng chống đỡ cao hơn với những thay đổi của môi trường 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh doanh. Điều này ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều biến động khôn lường. Tổng tài sản còn ảnh hưởng đến mức đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Do vậy, tổng tài sản nhỏ sẽ là một bất lợi lớn trong lĩnh vực bảo hiểm. Năng lực công nghệ Trong lĩnh vực bảo hiểm, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng như một nguồn lực giúp hoạt động của các doanh nghiệp và toàn ngành trở nên hiệu quả hơn. Công nghệ không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống cấp đơn bảo hiểm, bán hàng qua Internet… Công nghệ trong lĩnh vực bảo hiểm còn bao gồm hệ thống quản lý thông tin khách hàng, cảnh báo rủi ro từ các sự việc có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm trong nội bộ các DNBH. Như vậy, công nghệ thông tin kết nối trực tiếp đến hầu hết các nhân tố tác động tới hoạt động của DNBH, bao gồm bảo hiểm tự động, quản lý dữ liệu, phản ứng và giải quyết thảm họa; kiểm soát doanh nghiệp tự động; tích hợp và thay thế các hệ thống cũ; an ninh, bảo mật.
Và trong môi trường cạnh tranh ngày nay, việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là một trong những đòi hỏi cấp bách nhằm hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm, mà trong đó, ứng dụng công nghệ thông tin là yếu tố quan trọng. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với ngành bảo hiểm, nhân sự luôn là then chốt bởi chính con người tạo nên sự kết nối giữa khách hàng với các sản phẩm bảo hiểm. Bên cạnh đó, nhân sự của một DNBH kết nối các nguồn lực của DNBH và đây gốc của mọi cải tiến hay đổi mới.