Luận văn thạc sĩ y học đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng của bệnh nhân viêm gan b mạn tính có hbeag âm tính điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm gan B mạn tính và HBeAg âm tính

Viêm gan B mạn tính là một trong những bệnh lý gan phổ biến nhất hiện nay. Bệnh nhân viêm gan B có thể có HBeAg âm tính, điều này gây khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu làm rõ các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân viêm gan B mạn tính có HBeAg âm tính tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm gan B

Bệnh nhân viêm gan B thường có triệu chứng không rõ ràng. Các triệu chứng có thể bao gồm mệt mỏi, đau bụng, và vàng da. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để điều trị kịp thời.

1.2. Tình hình nhiễm HBV tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm HBV cao. Theo thống kê, khoảng 10-15% dân số Việt Nam mang virus viêm gan B mạn tính. Điều này đặt ra thách thức lớn cho ngành y tế trong việc kiểm soát và điều trị bệnh.

II. Vấn đề trong chẩn đoán và điều trị viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính

Chẩn đoán viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính gặp nhiều khó khăn. Nhiều bác sĩ vẫn cho rằng bệnh nhân HBeAg âm tính không có sự nhân lên của virus, dẫn đến việc điều trị không đầy đủ. Điều này có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng cho bệnh nhân.

2.1. Khó khăn trong việc chẩn đoán

Việc chẩn đoán viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính thường bị bỏ qua. Nhiều bệnh nhân không được xét nghiệm đầy đủ, dẫn đến việc không phát hiện kịp thời tình trạng bệnh.

2.2. Biến chứng do điều trị không đúng

Bệnh nhân viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính có thể gặp phải các biến chứng như xơ gan và ung thư gan. Việc điều trị không đúng có thể làm tăng nguy cơ tiến triển bệnh.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng từ bệnh nhân viêm gan B mạn tính có HBeAg âm tính.

3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang. Dữ liệu được thu thập từ bệnh nhân trong khoảng thời gian nhất định để phân tích các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng.

3.2. Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và hồ sơ bệnh án. Các chỉ số sinh hóa và huyết học cũng được ghi nhận để phân tích mối liên quan với nồng độ HBV-DNA.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính có nhiều đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khác nhau. Những phát hiện này có thể giúp cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.

4.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân

Nghiên cứu cho thấy nhiều bệnh nhân có triệu chứng không điển hình. Việc nhận diện các triệu chứng này có thể giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn.

4.2. Kết quả cận lâm sàng

Các chỉ số sinh hóa và huyết học cho thấy mối liên quan chặt chẽ với nồng độ HBV-DNA. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc theo dõi các chỉ số này trong quá trình điều trị.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị viêm gan B

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính cần được theo dõi và điều trị đúng cách. Tương lai cần có thêm nhiều nghiên cứu để cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của việc theo dõi bệnh nhân

Việc theo dõi thường xuyên giúp phát hiện sớm các biến chứng và điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân viêm gan B mạn tính.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ y học đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng của bệnh nhân viêm gan b mạn tính có hbeag âm tính điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình nhiễm HBV trên Thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nhiễm HBV trên Thế giới HBV là một trong tổng số bảy loại virus viêm gan hiện được biết (HAV, HBV, HCV, HDV, HEV, HGV và HTV) [44]. Bệnh được coi là rất nguy hiểm cho cộng đồng cần phải được phòng tránh [29], [62], [70].

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới hiện nay trên Thế giới có trên 2 tỷ người nhiễm HBV, trong đó có khoảng 400 triệu người mang virus viêm gan B mạn tính, chiếm 5% dân số toàn cầu, 70% số đó chuyển thành viêm gan vi rus B mạn tính, trong khi đó có xơ gan, ung thư tế bào gan nguyên phát gặp ở 30% số người này [29], [47]. Thế giới hàng năm có khoảng 50 triệu người bị nhiễm HBV và có từ 1 đến 2 triệu người chết vì có liên quan đến HBV [47], [70]. Nguy cơ mắc ung thư gan ở những người mang HBV mạn tính cao gấp 1000 lần so với những người không mang HBV [47], [54]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sự phân bố HBV trên thế giới phân thành ba vùng [70].

Vùng lưu hành dịch cao: là vùng có tỷ lệ mang HBsAg mạn tính từ 8 -15% và trên 70% số người lớn đã từng bị nhiễm HBV. Bao gồm phần lớn các nước ở Châu Á và Châu Phi, Trung Cận Đông, lưu vực sông Amazon và Tây Thái Bình Dương. Vùng lưu hành dịch trung bình: là những vùng có tỷ lệ mang HBsAg mạn tính từ 2-7% và số người lớn đã từng bị nhiễm HBV từ 20-50%. Đó là những nước như Ấn Độ, Nhật Bản, các nước Đông Âu, khu vực Nam Trung Mỹ.

Vùng lưu hành dịch thấp: là những vùng có tỷ lệ mang HBsAg mạn tính từ 0,1% đến 0,5 % số người lớn đã từng bị nhiễm HBV như Bắc Mỹ, Canada, Tây Âu, Australia, Newzeland và một số nước Nam Mỹ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 PHÂN BỐ BỆNH VIÊM GAN B MẠN TÍNH TRÊN TOÀN CẦU A A G H DG D B&C B&C D A B&C D E Cao Thấp Trung bình Hình 1.1: Phân bố HBV mạn tính trên thế giới Theo Fattovich G, diễn biến hàng năm từ nhiễm HBV mạn đến viêm gan B mạn là 0,8%- 2,7%, từ VGBMT đến xơ gan 1%- 9,4% và từ xơ gan đến ung thư gan là 0,8%-8% [43]. Ở các nước Châu Á, Thái Bình Dương viêm gan B mạn, xơ gan và ung thư gan do HBV khá cao. Tại Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, nhiễm virus VGBMT đưa đến xơ gan chiếm 50% và 70% - 90% ung thư gan [43], [5].

Tình hình nhiễm HBV ở Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng có mật độ lưu hành HBV cao trên thế giới. Theo Nguyễn Văn Mùi thì tỷ lệ mang HBV mạn tính trong cộng đồng Việt Nam vào khoảng 10- 15%, tức là có khoảng trên dưới 10 triệu người mang HBV mạn tính [17].Theo số liệu điều tra của Bộ y tế có khoảng 12- 16 triệu người mang HBV tương ứng với tỷ lệ người có HBsAg dương tính trong cộng đồng từ 14- 26%, tỷ lệ người mang Anti-HBc trên 60%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Tỷ lệ nhiễm HBV ở Việt Nam trong cộng đồng thay đổi từ 5,7-24,7%. Tỷ lệ mang HBsAg cao ở những nhóm đối tượng có nguy cơ cao: 12,4% ở nhóm nhân viên Y tế, 21,1% ở nhóm cho máu nhiều lần 19,2% ở nhóm tiêm chích và mại dâm 24,7% ở nhóm HIV dương tính [20], [27].

Phần trăm Năm Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ nhiễm HBV trong các nghiên cứu cộng đồng và trên các đối tượng khỏe mạnh Theo Hipgrave và cộng sự, phân bố tỷ lệ nhiễm HBV theo tuổi tại Việt Nam thay đổi như sau: 12,5% ở trẻ sơ sinh, 18,4% ở trẻ nhỏ, 20,5% ở thanh thiếu niên và 18,8% ở người lớn [51]. Một số đặc điểm về virus viêm gan B (HBV) 1. Hình thể và cấu trúc của HBV HBV thuộc họ Hepadnaviridae, nhóm Hepadna, chi Hepadnavirus, có bộ gen DNA, là virus hướng gan, có kích thước nhỏ, và duy nhất có a xít nhân là DNA (các vi rus viêm gan khác đều là RNA). Trong máu, dưới kính hiển vi điện tử người ta quan sát thấy HBV tồn tại dưới 3 dạng, là 3 loại tiểu thể khác nhau [17], [28].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 - Tiểu thể hình cầu nhỏ, có đường kính 22 nm (nanomet). - Tiểu thể hình ống (hình que) có đường kính 20 - 22 nm và dài từ 40 - 400 nm. - Tiểu thể hình cầu lớn, có đường kính 42 - 45 nm còn gọi là tiểu thể Dane, đây là virus hoàn chỉnh. Tiểu thể hình cầu nhỏ và hình ống là thành phần vỏ của HBV mà trong quá trình nhân lên tổng hợp dư thừa.

Đây chính là kháng nguyên bề mặt (HBsAg). Các tiêủ thể hình cầu nhỏ và hình ống có thể đứng riêng rẽ hoặc đứng với nhau thành từng đám, chúng không có khả năng truyền bệnh. Genome của HBV là ADN có cấu trúc mạch kép không hoàn toàn, kích thước 3200 bazơ. Được cấu tạo bởi 2 sợi có chiều dài không bằng nhau.2: Hình thể virus viêm gan B 1.

Kiểu gen của HBV Cho đến nay các nhà khoa học đã phát hiện ra 10 kiểu gen của HBV được ký hiệu từ A đến J [44] Một số nghiên cứu đã chỉ rõ được sự phân bố của các kiểu gen khác nhau [44], [77]. Kiểu gen A là kiểu gen chiếm ưu thế ở Bắc Âu và Bắc Mỹ. Kiểu gen B và C có nhiều ở Đông Á và Viễn Đông. Kiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 gen B và C cũng là kiểu gen gặp chủ yếu ở Việt Nam [1], [10], [19] [44].

Theo nghiên cứu của Đông Thị Hoài An cho thấy: Kiểu gen A (0,9%), Kiểu gen B (68,2%), Kiểu gen C (17,1%), Kiểu gen B/C (3,1%), Kiểu gen D, E, F (0,3%) [1], [56]. Kiểu gen D được tìm thấy ở vùng Địa Trung Hải và Trung Cận Đông. Kiểu gen E hay gặp ở phía tây cận Sahara, còn kiểu gen F tập trung ở Nam Mỹ. Sự phân bố của kiểu gen G đến nay vẫn chưa được xác định rõ.

Kiểu gen H được xác định có nguồn gốc ở Trung Mỹ. Sự khác nhau về kiểu gen tạo nên các hình thái lâm sàng khác nhau. Nghiên cứu gần đây ở Nhật Bản đã chỉ ra rằng kiểu gen C thường liên quan đến nhiều bệnh gan nặng: xơ gan, ung thư gan nguyên phát hơn kiểu gen B. Trong nghiên cứu khác của các tác giả Thụy Sỹ thì kiểu gen A được phát hiện có liên quan đến viêm gan mạn tính và kiểu gen D với viêm gan cấp tính [55], [70].

Đáp ứng với điều trị ở các kiểu gen khác nhau cũng khác nhau. Kiểu gen B đáp ứng với Interferon tốt hơn kiểu gen C [32], [48], Kao J H khảo sát bệnh nhân Đài loan ghi nhận kiểu gen B đáp ứng điều trị với Lamivudin tốt hơn kiểu gen C [19], [57], [81]. Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh giữa các kiểu gen cũng khác nhau: Kiểu gen B có chuyển đổi huyết thanh sớm hơn và có tỷ lệ cao hơn kiểu gen C. Dấu ấn miễn dịch HBeAg (+) và HBeAg (-) của bệnh nhân mang kiểu gen B, C là như nhau.

Người mang kiểu gen C có nguy cơ xơ gan cao hơn người mang kiểu gen B gấp 4,67 lần (khoảng tin cậy 95% [10]. Người nhiễm kiểu gen C ở tuổi còn trẻ có nguy cơ viêm gan B mạn, xơ gan và ung thư gan cao hơn ở người nhiễm kiểu B.Yếu tố nam và yếu tố kiểu gen C là hai yếu tố thuận lợi để bệnh nhân viêm gan tiến triển qua viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan nhiều hơn yếu tố nữ và yếu tố kiểu gen B [1]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Sự nhân lên của virus HBV Trước tiên HBV gắn đặc hiệu vào thụ thể dành cho IAg nằm trên bề mặt tế bào gan.

Sau khi cởi vỏ capsid, ADN kép với 2 sợi không bằng nhau được chui vào nhân để chuyển hóa thành dạng ADN kép khép vòng, siêu xoắn (cccADN). Dạng này được dùng làm khuôn để tổng hợp 4 loại ARN 3,5; 2,4; 2,1 và 0,7 kb. ARNm 3,5kb gọi là ARN tiền genome dùng để tổng hợp genome. ARN tiền genom được đóng gói cùng với AND - polymerase của virus và protein kinase để tạo thành hạt lõi.

Ở đây, tiền genome được dùng làm khuôn để tổng hợp các chuỗi ADN (-) (sợi L) theo cơ chế sao chép ngược. Polymerase của HBV phân giải ARN tiền genome chỉ để lại đoạn nhỏ (29 cặp bazơ ở đầu 5’) dùng làm mồi tổng hợp ADN (+) trên khuôn ADN tiếp đó các thành phần của vi rus được lắp ráp hoàn chỉnh rồi nảy chồi ra ngoài để lặp lại chu trình nhân lên ở tế bào gan khác. Hạt virus gắn với tế bào gan qua một protein thuộc họ carboxypeptidase của vật chủ. Sau khi cởi vỏ, phần nucleocapsid của virus xâm nhập vào bào tương.

Tại đây, phần lõi di chuyển vào nhân tế bào [40]. Trong nhân tế bào, gen của virus được chuyển thành dạng vòng khép kín (cccADN). Virus sử dụng ARN polymerase II của vật chủ để sao chép từ cccADN thành ARN genome và tiền genome ổn định [40]. Toàn bộ ARN được vận chuyển ra tế bào chất để dịch mã và tổng hợp lớp vỏ, lõi và tiền lõi (pre-core), ADN polymerase và protein X [3].

Sau cùng, phần nucleocapsid được lắp ráp tại bào tương và ARN bắt đầu thực hiện phiên mã ngược để tạo ra ADN virus. Sau khi tạo chuỗi ADN kép, một phần nhỏ nơi virus được vận chuyển vào nhân. Tại đây, chúng chuyển thành dạng cccADN để tồn tại lâu dài với vai trò khuôn mẫu sao chép trong nhân tế bào vật chủ; phần lớn các nucleocapsid sẽ nảy chồi vào lưới nội sinh chất hoặc thể Golgi để lắp ráp tiếp phần vỏ. Sau đó virus được giải phóng ra khỏi tế bào bằng túi vận chuyển dưới dạng hạt virus hoàn chỉnh [17].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 Tế bào gan Hình 1.3 Sự nhân đôi của HBV 1. Các thể đột biến của HBV Bằng kỹ thuật PCR, các nhà khoa học đã giải mã được cấu trúc bộ gen, xác định được bản đồ gen của HBV, từ đó xác định được HBV với 2 thể tồn tại [7]: + Thể tự nhiên (thể hoang dại: wild-form) + Thể đột biến (Mutation form) Thể đột biến được biểu hiện dưới dạng chứa các protein không điển hình hoặc thay đổi vị trí các gen.  Đột biến trước nhân: (Pre - core mutation) Loại đột biến này được phát hiện đầu tiên ở những bệnh nhân viêm gan B với sự có mặt của HBV-DNA và Anti-HBe trong huyết thanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình sử dụng thuốc kháng virus trong điều trị bệnh viêm gan B mạn tính, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị để đạt được hiệu quả tốt nhất. Đặc biệt, nó chỉ ra rằng việc tuân thủ không chỉ giúp cải thiện sức khỏe của bệnh nhân mà còn giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc kháng virus trên người bệnh viêm gan b mạn tính tiến triển tại bệnh viện đa khoa tỉnh vĩnh phúc năm 2020, nơi cung cấp thông tin chi tiết về tình hình tuân thủ thuốc tại một bệnh viện cụ thể.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm gan siêu vi b mạn tính bằng tenofovir tại phòng khám gan bv đại học y dược cần thơ, giúp bạn nắm bắt được các phương pháp điều trị hiện đại và hiệu quả.

Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ thực trạng mang vi rút viêm gan b trên phụ nữ mang thai và kết quả can thiệp dự phòng tại thành phố hải phòng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của viêm gan B đối với phụ nữ mang thai và các biện pháp phòng ngừa cần thiết.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về viêm gan B mà còn mở ra nhiều khía cạnh mới để bạn khám phá và nâng cao kiến thức của mình.