Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm chung về bệnh viêm gan siêu vi B 1.1 Lịch sử bệnh viêm gan siêu vi B Năm 1947, MacCallum đề nghị gọi bệnh viêm gan nhiễm từ huyết thanh là viêm gan B và viêm gan nhiễm bằng đường phân miệng có thể gây dịch lớn là viêm gan A. Các thuật ngữ này được Ủy ban của Tổ chức Y tế Thế Giới về viêm gan siêu vi B chấp thuận. Những năm 1960 và 1970, Krugman và cộng sự tại viện Willowbrook đã mô tả hai dạng của virus viêm gan: MS-1 và MS-2 [37].Cameron và cộng sự đã phân lập được HBV hoàn chỉnh gọi là tiểu thể Dane [29]. Từ đó người ta phát hiện nhiều dấu ấn khác của HBV như HBeAg, anti-HBe, HBcAg, anti-HBc.2 Sự phân bố HBV trên thế giới và Việt Nam 1.1 Sự phân bố HBV trên thế giới Hình 1.1 Sự phân bố nhiễm HBV trên thế giới (nguồn: www.com) 4 Trên toàn cầu, HBV được chia làm 3 vùng dịch: vùng dịch địa phương cao (≥ 8%) ước tính khoảng 45% dân số bao gồm Đông Nam Châu Á, Trung Quốc và châu Phi cận Sahara; vùng dịch trung bình (2-7%) chiếm 43% dân số gồm các quốc gia Địa Trung Hải, Nhật Bản, Trung Á, Trung Đông, Latin và Nam Mỹ; vùng dịch địa phương thấp (<2%) đại diện cho 12% dân số toàn cầu bao gồm Tây Âu, Hoa Kỳ và Canada, Australia và New Zealand.
Hiện nay, gần 3/4 dân cư trên thế giới đã từng hoặc đang nhiễm HBV, dù tần suất chính xác khó dự đoán. Khoảng một triệu người chết vì các nguyên nhân liên quan đến HBV hàng năm [47].2 Sự phân bố HBV ở Việt Nam Nước ta nằm trong vùng dịch VGSV B lưu hành cao, là một trong những nước có tỉ lệ nhiễm HBV cao nhất thế giới. Cả nước ước tính có khoảng 12-16 triệu người nhiễm HBV, tỉ lệ người mang HBsAg(+) mạn tính từ 9,3-21% theo nhiều đánh giá trên các nhóm đối tượng khác nhau và có 80-90% bệnh nhân ung thư gan nguyên phát nhiễm HBV [7]. Các kết quả điều tra cộng đồng về tỉ lệ mang HBsAg(+) ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ này dao động từ 10-20% [17] như: 11% (điều tra ở một huyện của tỉnh An Giang năm 1995), 13,6% (điều tra nhân viên bưu điện Hà Nội), 14,4% (điều tra người dân Hà Nội), 9,9% (điều tra ở một xã của tỉnh Bình Định).3 Các đường lây nhiễm HBV Quan hệ tình dục: Tại các khu vực tỉ lệ thấp, quan hệ tình dục là con đường chính lây truyền HBV.
Khoảng 40% trường hợp nhiễm HBV mới ở Hoa Kỳ là truyền qua tình dục khác giới và 25% qua tình dục đồng giới. Qua da (tiêm chích ma tuý) là một phương thức hiệu quả của truyền HBV: sử dụng chung bơm kim tiêm do tiêm chích ma túy, dùng chung dao cạo hoặc bàn chải đánh răng, châm cứu, xăm mình và xỏ lỗ cơ thể. Chu sinh (truyền dọc): đường lây truyền chính của HBV ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương. Tỉ lệ lây truyền từ mẹ có HbeAg(+) sang con có thể cao đến 90% và có thể xảy ra trong tử cung, trong khi sinh hoặc sau khi sinh.
5 Truyền ngang: HBV tồn tại và có thể lây bệnh trong môi trường ít nhất là 7 ngày. Do đó, HBV có thể truyền thông qua đồ gia dụng bị ô nhiễm như bàn chải đánh răng, dao cạo râu và thậm chí cả đồ chơi. Qua đường máu: Đây là cách thức lây truyền phổ biến của HBV, bệnh dễ dàng lây truyền bằng đường máu. Theo một nghiên cứu của Đồng Sĩ Đằng và Cs thì ở Thừa Thiên Huế tỉ lệ người hiến máu tình nguyện nhiễm HBV là 12,84% đây là một yếu tố nguy cơ gây lây nhiễm HBV trong cộng đồng [6].4 Virus viêm gan B 1.1 Hình thái, cấu trúc của HBV Virus viêm gan B là virus DNA hình vòng tròn chuỗi kép không hoàn toàn, thuộc nhóm Hepadraviridae.
Virus gồm một capsid nhân chứa DNA được bọc bởi lớp vỏ có chứa kháng nguyên bề mặt (HBsAg). Cấu trúc của tiểu thể Dane hay một virion hoàn chỉnh gồm 2 phần: phần vỏ lipoprotein chứa kháng nguyên bề mặt HBsAg và phần lõi capsid gồm protein lõi bao bọc DNA và DNA polymerase. Bộ gen của HBV có 3200 cặp nucleotide bao gồm một phần sợi đôi DNA có chiều dài không bằng nhau và lớp vỏ lipoprotein bên ngoài, bộ gen của HBV hết sức phức tạp, có 4 khung đọc mở gối chồng lên nhau được xác định: gen S, gen C, gen P, gen X. Với chiều dài rất hạn chế, bộ gen của HBV vẫn đảm bảo được chức năng mã hóa cho việc tổng hợp các protein cấu trúc một cách phong phú và đa dạng [46], [49].2 Quá trình sao chép của virus viêm gan (hình 1.2) - Virus xâm nhập vào tế bào gan bằng cách trút bỏ lớp áo ngoài, sau khi vào bên trong tế bào thì sẽ xảy ra hiện tượng xâm nhập nhân tế bào - Tạo ra và tu sửa cccDNA làm nhanh chóng quá trình sinh trưởng HBV nhờ men sao chép ngược của HBV và giải phóng DNA polymerase - CccDNA là mẫu để polymerase II của tế bào gan tạo ra tất cả RNA – DNA để hình thành kháng nguyên nhân (c), kháng nguyên bề mặt (s) và pregenomic HBV - Đóng gói và biến đổi hai vòng DNA của HBV nhờ men co-encapsided sao chép ngược của HBV – RNA pregenomic 6 - Vận chuyển nucleocapsid có kháng nguyên nhân, có polymerase protein, có hai vòng DNA (+) và (-) ra khỏi tế bào gan và đóng gói ngoài nhân - Kháng nguyên bề mặt bao phủ nuleocapsid cùng lớp mở của tế bào gan thành một virion HBV hoàn chỉnh trong tổ chức nội bào Golgi và xuất ra ngoài thâm nhập tế bào gan khác [46].3 Các giai đoạn của nhiễm HBV Giai đoạn dung nạp miễn dịch: ALT huyết thanh thường không tăng, nhưng HBV lại tăng sinh mạnh trong huyết thanh với HBeAg (+), nồng độ HBV – DNA cao hoặc không có viêm gan hoại tử [43].
Hoạt tính của bệnh trong giai đoạn này là thấp mặc dù có sự tăng sinh HBV, HBeAg, HBcAg có nhiều trong nhân, tiên lượng ngắn là tốt. Giai đoạn phản ứng miễn dịch: nồng độ aminotransferase huyết thanh tăng cao, nồng độ HBV – DNA dao động với HBeAg (+), hình ảnh viêm gan hoạt động trên sinh thiết gan. Một kết quả quan trọng trong giai đoạn này là sự chuyển đổi huyết thanh HBeAg thành anti-HBe, sự chuyển đổi này chịu ảnh hưởng của tuổi, nồng độ aminotransferase huyết thanh cao và kiểu gen HBV [36]. Giai đoạn không tăng sinh: bệnh nhân thường không có triệu chứng lâm sàng, nồng độ HBV – DNA trong huyết thanh thấp, aminotransferase không tăng, anti – Hbe xuất hiện thay thế HBeAg.
Sinh thiết gan cho thấy tình trạng viêm gan nhẹ và xơ hóa tối thiểu, nhưng xơ gan không hoạt động có thể quan sát được ở những bệnh nhân có tổn thương gan trong giai đoạn phản ứng miễn dịch [36]. Giai đoạn tái kích hoạt: Diễn ra dưới thể viêm gan B có HBeAg(-) hoặc quay trở về thể viêm gan B có HBeAg(+), tái xuất hiện HBV – DNA trong huyết thanh, men ALT cao và tiếp tục hoại tử tế bào gan [34].5 Các dấu ấn của HBV và ý nghĩa lâm sàng HBsAg: kháng nguyên bề mặt, thuộc phần vỏ của HBV, xuất hiện sớm nhất trong huyết thanh sau khi nhiễm HBV khoảng 1-10 tuần sau khi tiếp xúc với HBV và khoảng 2-6 tuần trước khi có triệu chứng và men gan tăng cao. HBsAg là dấu ấn 7 huyết thanh của nhiễm HBV, nó được phát hiện nhờ vào kĩ thuật miễn dịch phóng xạ hoặc xét nghiệm miễn dịch enzym [49]. Anti-HBs: một kháng thể bảo vệ cơ thể, sự hiện diện của anti-HBs ở người VGSV B là một tiêu chí chứng tỏ rằng bệnh nhân đã hồi phục và có khả năng miễn dịch với quá trình tái nhiễm HBV, anti-HBs(+) đơn độc chỉ gặp ở những người đã tiêm phòng vacxin VGSV B.
HBeAg: xuất hiện đồng thời với HBsAg, nó chứng tỏ virus đang tăng sinh và khả năng lây nhiễm cao. Nếu virus có đột biến đoạn precore thì HBeAg(-) dù đang tăng sinh. Anti-HBe: xuất hiện 2-4 tuần sau khi HBeAg biến mất, chứng tỏ virus đã ngừng tăng sinh và khả năng lây thấp. HBcAg: kháng nguyên lõi của HBV, không phát hiện được trong huyết thanh bệnh nhân.
Anti-HBc gồm hai dạng IgM và IgG. IgG anti-HBc xuất hiện ngay sau HBsAg ở những người bị bệnh cấp và tồn tại kéo dài, nếu hiện diện IgM anti-HBc để chẩn đoán xác định bệnh VGSV B cấp [44]. HBV – DNA: phát hiện và tiến hành xác định nồng độ HBV – DNA rất cần thiết cho việc chẩn đoán, quyết định điều trị và theo dõi bệnh nhân trong quá trình điều trị. Kiểm tra định tính và định lượng HBV – DNA trong huyết thanh đã được phát triển để đánh giá sự sao chép của HBV và việc phục hồi của bệnh VGSV B cấp tính thường đi kèm với việc biến mất của HBV – DNA trong huyết thanh.
Việc xác định nồng độ HBV – DNA huyết thanh có thể sử dụng như một yếu tố dự báo quan trọng liên quan đến ung thư tế bào gan, sự hiện diện của xơ gan [27]. CccDNA: sự tồn tại của nó phản ánh tình trạng mạn tính của bệnh. Hiện nay chưa có thuốc diệt virus nào có thể tác động tới cccDNA. Nồng độ cccDNA là mối tương quan thuận với hàm lượng HBsAg trong huyết thanh.
Do vậy, HBsAg là một dấu ấn có giá trị trong theo dõi và tiên lượng đáp ứng điều trị [24].2 Viêm gan siêu vi B mạn tính 1.1 Định nghĩa Viêm gan siêu vi B mạn tính là tình trạng viêm và hoại tử gan kéo dài liên tục trên 6 tháng. Những bệnh nhân được chẩn đoán VGSV B mạn khi có HBsAg(+) > 6 tháng hoặc HBsAg(+) và IgG-HBcAb(+); nồng độ HBV – DNA > 104copies/ml (nhóm bệnh nhân có HBeAg(-)), nồng độ HBV – DNA ≥ 105 copies/ml (nhóm HBeAg(+)), ALT tăng cao thường xuyên hay từng đợt. Mức độ viêm và hoại tử thì luôn thay đổi từ nhẹ đến nặng, mức độ xơ hóa có giá trị tiên lượng bệnh. Tỉ lệ mạn tính HBV là khoảng 5% hoặc ít hơn ở người lớn nhiễm trùng mắc phải [47], [42].2 Mục tiêu điều trị Mục tiêu cơ bản của điều trị là giảm nguy cơ xơ gan, ung thư gan và tử vong.
Mục tiêu này có thể đạt được nếu điều trị khống chế lượng HBV – DNA đạt mức thấp nhất (không phát hiện với kỉ thuật PCR) và đáp ứng bền vững, mục tiêu lí tưởng là mất HBsAg với có hoặc không có anti – HBs [14]. Tuy nhiên tình trạng nhiễm HBV không thể hoàn toàn được loại bỏ do sự tồn tại dai dẳng của cccDNA trong nhân tế bào gan [30].