Phần mở đầu gồm 4 trang trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài: “Xây dựng thuật toán và sơ đồ khối của chương trình dự báo động đất theo mô hình thống kê”. Trong phần này còn trình bày mục tiêu , nhiệm vụ, các kết quả nhận đƣợc, các điểm mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn. Chƣơng 1: gồm 10 trang, giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu dự báo động đất trên thế giới và ở Việt Nam, các phƣơng pháp xác định magnutide cực đại của động đất và vùng phát sinh động đất mạnh. Chƣơng 2: gồm 12 trang với 3 hình vẽ trình bày cơ sở lý thuyết của phƣơng pháp và quy trình dự báo động đất.
Chƣơng 3: gồm 14 trang với 4 hình vẽ. Nội dung chƣơng này trình bày thuật toán, sơ đồ khối, giới thiệu về ngôn ngữ lập trình đƣợc sử dụng, các giao diện của chƣơng trình và hƣớng dẫn sử dụng chƣơng trình. Chƣơng 4: gồm 11 trang với 3 hình vẽ và 4 bảng biểu trình bày kết quả áp dụng thử nghiệm chƣơng trình đã lập để dự báo động đất cho khu vực Tây Bắc Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Trên cơ sở các kết quả này tác giả đã đƣa ra những nhận xét và đánh giá về khả năng áp dụng và các ƣu điểm của chƣơng trình đã lập.
Trần Việt Phương 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu dự báo động đất trên thế giới: Từ lâu các nhà khoa học đã thống kê và tổng kết đƣợc những nguyên nhân chính gây ra động đất, nơi nào thƣờng xuyên xảy ra động đất và tính toán đƣợc những tham số cơ bản của một trận động đất khi nó diễn ra. Tuy nhiên, vấn đề dự báo sớm động đất sẽ xảy ra ở đâu, khi nào và có độ lớn bao nhiêu là điều mà các nhà khoa học hƣớng đến thì vẫn là một bài toán chƣa có lời giải trọn vẹn. Qua nhiều thế kỷ, ngƣời ta đã dựa trên những cơ sở khác nhau, từ các hoạt động khác thƣờng của một số loài vật tới những hình thù kỳ lạ của các đám mây, sự biến đổi đột ngột của mực nƣớc giếng, hay sự thay đổi hàm lƣợng radon hoặc hydro trong đất đá để tìm cách dự báo động đất.
Một trong những lần ngƣời ta đã dự báo đƣợc chính xác là trận động đất tại Haicheng, Trung Quốc, năm 1975. Lệnh di tản đã đƣợc phát đi một ngày trƣớc khi trận động đất mạnh 7,3 độ Richter tàn phá thành phố. Trong nhiều tháng trƣớc đó, ngƣời ta đã ghi đƣợc hàng loạt những trận động đất nhỏ, cùng với nó là sự thay đổi mực nƣớc ngầm và sự dâng lên của bề mặt địa hình. Tuy nhiên, rất ít trận động đất có những dấu hiệu tiền báo nhƣ thế.
Sau thành công ở Haicheng, cũng chính các nhà địa chấn học Trung Quốc đã không thể dự báo một trận động đất với sức hủy diệt còn lớn hơn tại Tangshan năm 1976. Với cƣờng độ 7,6 độ Richter, trận động đất này đã cƣớp đi sinh mạng của 250 nghìn ngƣời. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ dự báo thiên tai ngày càng đƣợc hoàn thiện hơn. Các trận động đất thƣờng là kết quả chuyển động của các bộ phận đứt gãy trên vỏ Trái đất, cấu tạo chủ yếu từ chất rắn.
Tuy rất chậm nhƣng mặt đất vẫn luôn chuyển động và động đất xảy ra khi ứng suất (nội lực phát sinh trong vật thể biến dạng do các tác nhân bên ngoài tác dụng) cao hơn sức chịu đựng của đất đá. Các nhà khoa học nhận thấy rằng việc đo những sự thay đổi trong các đoạn đứt gãy khó hơn nhiều so với việc đo biến thiên ứng suất, đặc biệt là các Trần Việt Phương 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ đứt đoạn nằm sâu bên trong thạch quyển. Gần đây, các chuyên gia khoa học của Viện nghiên cứu Carnegie - Mỹ đã tìm ra cách để kiểm tra và giám sát chiều dài của các đoạn đứt gãy, cũng nhƣ sự dịch chuyển của chúng trên vỏ Trái đất. Phát hiện này có thể là một phƣơng pháp mới đầy hữu ích, giúp cho việc dự báo các trận động đất bằng cách định vị chính xác các đứt gãy có khả năng làm rung chuyển mặt đất và gây ra các trận động đất.
Trong khi đó, các chuyên gia của Viện Nghiên cứu vũ trụ thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga lại tiếp cận việc dự báo động đất sớm từ vũ trụ bằng việc lắp đặt thiết bị dự báo động đất trên trạm không gian quốc tế. Thiết bị này có thể ghi nhận những biến đổi của các dòng điện tử và proton có năng lƣợng trung bình trong khoảng không gian gần Trái đất. Các nhà khoa học cho rằng những thay đổi của các dòng điện tử và proton này có liên quan tới các quá trình địa vật lý trên Trái đất nhƣ dông tố, động đất, vv… Do vậy, khi ghi nhận đƣợc những thay đổi này, chúng ta có thể dự báo động đất với độ chính xác cao. Ngoài ra, ngƣời ta đã và đang sử dụng hàng loạt các phƣơng pháp nghiên cứu dự báo động đất khác dựa trên việc làm sáng tỏ các dấu hiệu khác nhau nhƣ: - Các dấu hiệu về sự phát triển của vùng nguồn (dị thƣờng về mật độ các đứt gãy sinh chấn), - Quan hệ giữa vận tốc lan truyền sóng dọc và sóng ngang, - Năng lƣợng giải phóng trong các chuỗi động đất, và hàng loạt các dấu hiệu khác có đặc trƣng báo trƣớc các động đất tƣơng lai (các động đất sẽ xảy ra).
Trong một loạt các phƣơng pháp khác ngƣời ta lại sử dụng các bất thƣờng đồng thời trong diễn biến của một số các dấu hiệu có bản chất vật lý khác nhau. Một số công trình theo hƣớng này chứa các công thức thuật toán dự báo động đất. Đó là các thuật toán dự báo động đất CN và M8. Kết quả dự báo động đất theo kiểu nhƣ vậy là chỉ ra vùng động đất mạnh trong tƣơng lai, mà ở đó trong một khoảng thời gian nào đó (thƣờng là nhiều năm và gọi là dự báo trung hạn) sẽ xảy ra động đất.
Ƣu điểm của hệ phƣơng pháp và các thuật toán dự báo trung hạn nhƣ trên là làm sáng tỏ đƣợc các dấu hiệu của động đất tƣơng lai, có ý nghĩa vật lý và cho phép Trần Việt Phương 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ đánh giá chúng bằng các phƣơng pháp thống kê. Tuy nhiên, tính không xác định của độ chính xác dự báo động đất trung hạn có thể coi là nhƣợc điểm cơ bản của các phƣơng pháp này. Vì vậy, trong luận văn này, tác giả sẽ ứng dụng mô hình thống kê để thiết lập chƣơng trình thƣ̉ nghiê ̣m dự báo ngắ n ha ̣n động đất và magnitude của chúng, áp dụng đối với lãnh thổ Việt Nam và các vùng lân cận. Cách tiếp cận mới này vừa đơn giản hơn mà lại có khả năng loại bỏ đƣợc các nhƣợc điểm của các phƣơng pháp nêu trên.
Tình hình nghiên cứu dự báo động đất ở Việt Nam: Nghiên cứu dự báo động đất ở Việt Nam chủ yếu đƣợc tiến hành theo hai nhóm phƣơng pháp chính nhƣ sau: Dự báo động đất cực đại trên cơ sở các tài liệu địa chất – địa vật lý. Dự báo động đất cực đại trên cơ sở phân tích thống kê địa chấn. * Dự báo động đất cực đại trên cơ sở tài liệu địa chất – địa vật lý bao gồm một số phương pháp như sau: 1. Phương pháp tính Mmax theo quy mô vùng phát sinh động đất: Theo phƣơng pháp này, ngƣời ta dựa vào sự liên hệ giữa kích thƣớc của đoạn đứt gãy sinh chấn (L) cũng nhƣ bề dày tầng sinh chấn (H) với M max động đất [37, 38, 43, 44]: Mmax ≤ 2lg L(km) + 1.48 Độ chính xác của phƣơng pháp phụ thuộc vào việc chúng ta xác định kích thƣớc của đoạn đứt gãy sinh chấn và bề dày tầng sinh chấn nhƣ thế nào.
Phƣơng pháp này áp dụng tốt cho vùng có đứt gãy hoạt động nhƣng đồng thời nó lại không thể dự báo đƣợc Mmax cho những vùng khác không có đứt gãy hoạt động. Phương pháp kiến tạo vật lý: Theo phƣơng pháp này cho rằng, vị trí, năng lƣợng của động đất mạnh cực đại của mỗi vùng phụ thuộc vào gradient vận tốc chuyển động kiến tạo thẳng đứng trong thời kì tân kiến tạo. Trong đó nếu Trần Việt Phương 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ gradient vận tốc lớn hơn 10-8/ năm thì trên diện tích 1000 km2 có thể xảy ra động đất cấp 7 một lần trong 1000 năm. Sau đó gradient vận tốc cứ tăng lên 3 lần thì độ mạnh động đất tăng lên 1-2 cấp.
Song cần lƣu ý rằng, động đất trƣớc hết là hệ quả của các chuyển động hiện đại mà gradient vận tốc trung bình trong cả chu kỳ tân kiến tạo có thể không phản ánh đƣợc, do đó có thể gradient của vận tốc ấy không phản ánh mức độ nguy hiểm động đất hiện nay. Thêm nữa động đất mạnh không chỉ là hệ quả của chuyển động thẳng đứng mà thƣờng là hệ quả của các chuyển động ngang. Trong từng trƣờng hợp đó gradient vận tốc chuyển động thẳng đứng không nói lên điều quan trọng nhất. Phương pháp đánh giá chuyên gia Cơ sở chính của phƣơng pháp này là việc xác định mức độ phản ánh của các lớp đối tƣợng địa chất – địa vật lý về đặc trƣng hoạt động động đất.
Mức độ phản ánh này đƣợc biểu diễn qua trọng số của từng tham số. Sau khi phân loại đối tƣợng, gán trọng số cho đối tƣợng, chúng ta tổng hợp ảnh hƣởng của các đối tƣợng để dự báo khu vực có khả năng phát sinh động đất mạnh cũng nhƣ thành lập bản đồ dự báo chấn động cực đại [42]. Sử dụng kết hợp các tài liệu địa chất – địa vật lý: Các phƣơng pháp này bƣớc đầu đã đƣợc áp dụng ở Việt Nam trong một số công trình trên cơ sở sử dụng các đặc trƣng cấu trúc vỏ [8, 39, 40]. Ngoài ra, các tác giả của công trình [27] cũng sử dụng một số đặc trƣng cấu trúc vỏ Trái đất để áp dụng thử nghiệm dự báo động đất theo vecto dấu hiệu nhiều chiều.
Tuy nhiên, các kết quả nhận đựơc trong những công trình nêu trên còn hết sức sơ lƣợc. Mặt khác cũng chƣa có tác giả nào xây dựng đƣợc thuật toán và thiết lập đƣợc chƣơng trình dự báo động đất phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam trên cơ sở các phƣơng pháp áp dụng.