mở đầu và kết thúc câu chuyện sao cho phù hợp; Luôn chú ý vào nội dung cuộc nói chuyện, luôn lắng nghe để hiểu đúng thông tin cần thiết đƣợc nhắc tới; Chú ý tập trung vào mục đích cuộc nói chuyện để nắm nội dung và thông tin chính xác. - HS có thể tƣởng tƣợng và minh họa lại dáng vẻ, lời nói, cử chỉ, hành động của một nhân vật trong câu chuyện đã nghe theo đúng trình tự hợp lý. Vai trò của bài tập tự chọn trong việc phát triển năng lực Tiếng Việt cho học sinh lớp 3. Vai trò xây dựng hệ thống bài tập trong phát triển năng lực Tiếng Việt cho học lớp 3 nhằm giúp học sinh phát triển khả năng tƣ duy sáng tạo; phát triển các kỹ năng quan sát; kỹ năng miêu tả; kỹ năng lựa chọn sử dụng từ ngữ; kỹ năng liên kết câu; liên kết đoạn.
Các kiến thức mà GV muốn rèn luyện và cho học sinh vận dụng vào trong cuộc sống luôn luôn phải đi đôi với thực hành. Việc thực hành của học sinh trƣớc hết đƣợc thể hiện qua hệ thống bài tập. Từ bài tập, học sinh nắm đƣợc những nội dung cơ bản và vận dụng vào giải quyết các tình huống thực tiễn. Qua hệ thống bài tập mà GV biên soạn chính là phƣơng tiện để HSkết nối, kiểm chứng và thực hành các kỹ năng trong quá trình lĩnh hội.
Nhƣ vậy các kỹ năng giao tiếp của HS sẽ đƣợc luyện tập, củng cố và vận dụng kịp thời và đạt hiệu quả. Mặt khác, việc tích cực hóa hoạt động của học sinh sẽ thực sự có hiệu quả chỉ thông qua việc HS bắt tay vào làm thực tế, vận dụng, thực hành. Dù đúng hay sai thì đây cũng là một trong những cớ hội giúp học sinh tự đúc rút kinh nghiệm, sửa chữa kịp thời. Quá trình vận dụng từ lý thuyết đến thực tiễn thực sự có hiệu quả khi kết hợp hài hòa giữa kiến thức trong lý thuyết và thực tiễn chứng minh.
Quan trọng ngƣời dạy phải biết giao việc và tổ chức các hoạt động học tập, tạo cơ hội cho HS đƣợc trải nghiệm và bộ lộ những suy nghĩ, khám phá, tìm 14 tòi. Hệ thống bài tập còn biến quá trình dạy học thành quá trình HS tự thực hiện các nhiệm vụ để hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp. Thông qua hệ thống bài tập, GV phân loại và phát hiện đƣợc HS còn yếu và HS có năng khiếu môn Tiếng Việt. Từ đó GV sẽ có kế hoạch phụ đạo, bồi dƣỡng, động viên, khích lệ HS tiến bộ hơn so với chính bản thân của các em.
Mỗi hệ thống bài tập hợp ký không chỉ giúp cho GV phân hóa đƣợc HS trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn giúp GV tạo dựng đƣợc môi trƣờng tốt để có những giờ học, những hoạt động hiệu quả trong việc nâng cao năng lực vận dụng, thực hành áp dụng Tiếng Việt vào trong đời sống hằng ngày. Thực tế cuộc sống đã chứng minh, ngƣời nào có khả năng giao tiếp tốt thì sẽ luôn luôn có đƣợc nhiều thành công trong công việc, nếu ngƣời đó biết vận dụng các kỹ năng mềm trong cuộc sống đúng lúc đúng chỗ. Các kỹ năng này chủ yếu đƣợc hình thành thông qua môn Tiếng Việt. Bên cạnh đó, hệ thông bài tập môn Tiếng Việt còn giúp HS phát triển năng lực tƣ duy logic, biện chứng, độc lập và sáng tạo.
Xã hội càng phát triển, khả năng sáng tạo, linh hoạt của mỗi ngƣời là quan trong nhƣng cũng không thể thiết đƣợc các kỹ năng hợp tác trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống. Muốn đạt hiệu quả trong làm việc hợp tác đòi hỏi mỗi ngƣời phải biết biểu đạt tƣ tƣởng tình cảm, năng lực, sở thích, thái độ, hành vi của mình đối với công việc. Việc thực hành vận dụng tốt trong mọi tình huống giao tiếp cụ thể đều đƣợc hình thành từ những nhiệm vụ nhỏ nhất hằng ngày. Hệ thống bài tập Tiếng Việt là một trong những cơ hội rèn luyện năng lực sáng tạo của HS.
Hệ thông bài tập môn Tiếng Việt giúp HS phát triển tƣ duy, rèn trí thông minh cho HS góp phần hình thành và phát triển năng lực cho việc đáp ứng với mục tiêu đổi mới của chƣơng trình GDPT 2018. Đặc điểm tâm lí và tư duy ngôn ngữ của học sinh lớp 3 1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3 Từ các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm ký học và qua thực tế chứng minh, học sinh lớp 3 có một số đặc điểm nhƣ sau: 15 - Tƣ duy của HS mang đậm màu sắc cảm xúc và tƣ duy trực quan hành động chiếm ƣu thế. HS rất hiếu động, mải chơi nhƣng đồng thời theo lứa tuổi, HS chuyển dần từ cụ thể sang tƣ duy trừu tƣợng, khái quát.
- Giai đoạn HS lớp 3 là thời điểm ở các em đã dần dần hình thành lối tƣ duy trực quan hình tƣợng. HS tò mò, muốn tìm hiểu và khám phá thế giới, các em đã dần hiểu đƣợc các khái niệm một cách cơ bản, khái quát nhất của vấn đề. Có thể dễ dàng ta nhận thấy lúc này những thao tác về tƣ duy nhƣ phân loại, tính toán, nhận thức về thế giới hiện thực khách quan xung quanh nhƣ không gian, thời gian,… cũng dần đƣợc hình thành và đã phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn này, tƣ duy về ngôn ngữ cũng đã bắt đầu hình thành, các em bƣớc đầu biết trình bày, diễn đạt mội ý nghĩ, tƣ tƣởng theo cách riêng của lứa tuổi.
Đây là giai đoạn ở các em đã biết vận dụng năng lực tƣ duy cụ thể để tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh (Theo lý thuyết phát triển trí tuệ của Piaget). Tuy vậy, năng lực tuy duy của trẻ vẫn còn nhiều mặt hạn chế , HS vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng tƣ duy trừu tƣợng về hình ảnh sự vật có mối liên hệ phức tạp. Giai đoạn lớp 3, sự phát triển về nhận thức và tƣ duy đƣợc thể hiện qua các khía cạnh sau: + Quá trình hình thành và phát triển về tri giác: Từ lứa tuổi lớp 2, kĩ năng tổ chức, điều hành, khả năng chú ý của các em đã đƣợc hình thành song đến lứa tuổi lớp 3, các kỹ năng này đƣợc phát triển và củng cố ở mức cao hơn. Đây là giai đoạn HS đã bộc lộ khả năng chú ý có chủ định, óc quan sát, tổng hợp đã bƣớc đầu phát triển và dần dần chiếm ƣu thế nhƣng sự tập trung, chú ý của trẻ chƣa ổn định, HS còn nhanh thích, mau chán, chú ý không bền vững.
Nhƣ vậy, yếu tố thời gian đã xuất hiện trong sự chú ý của các em. Các em cần đƣợc rèn luyện nhiều hơn thông qua việc tổ chức các hoạt động kết hợp với việc rèn kỹ năng tập trung, chú ý ở mức độ cao hơn. + Quá trình hình thành, phát triển về trí nhớ: Đối tƣợng HS lớp 3 sự hƣng phấn ƣu thế đƣợc thành lập còn yếu nên khả năng trí nhớ không lâu, chúng đƣợc thành lập một cách khó khăn, chậm,đồng thời dễ bị dập tắt; Vì vậy ta luôn thấy 16 trẻ mau ghi nhớ sự vật hiện tƣợng nhƣng đồng thời trẻ cũng mau quên. Những ƣu thế khác, mới lạ xuất hiện nhanh chóng đƣợc thay thế.
Lập tức vùng ƣu thế kia chóng vánh bị mất đi. Trẻ lớp 3 luôn có sự thay đổi, di chuyển sự chú ý từ đối tƣợng này sang đối tƣợng khác, không duy trì lâu. Vì thế cƣờng độ tập trung chú ý của trẻ còn rất yếu, làm trẻ bị phân tán chú ý. Do đó học sinh lớp 3 không thể có đƣợc khả năng tập trung chú ý lâu dài trong suốt một thời gian nhất định.
Trong dạy học ta luôn bắt gặp trẻ ghi nhớ bài rất nhanh nhƣng lại rất mau quên. Tóm lại, khả năng tri giác của HS lớp 3 mang tính khái quát, đại thể cao, trẻ ít đi vào chi tiết, cụ thể và mang tính không ổn định. Thực tế đã chứng minh: ở đầu tuổi tiểu học khoảng từ lớp 1- lớp 3, tri giác thƣờng gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học( khoảng thời gian lớp 4- lớp 5) tri giác mang tính xúc cảm bắt đầu phát triển mạnh, trẻ tò mò, thích quan sát các sự vật hiện tƣợng ở trạng thái chuyển động và có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn. Khả năng tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có chủ định, có phƣơng hƣớng xác định khá rõ ràng trẻ biết lập kế hoạch học tập đơn giản dƣới sự động viên, kiểm soát của bố mẹ, thầy cô, biết sắp xếp, làm một số công việc nhà đơn giản phù hợp với lứa tuổi nhƣng mau chán, biết làm các bài tập và thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao từ dễ đến khó.
Nắm đƣợc đặc điểm này, chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang tính linh hoạt và phát triển sự sáng tạo cho trẻ. Khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tìm tòi, khám phá và hình thành phát triển, củng có tri giác tích cực và chính xác. Nhƣ vậy, GV cần linh hoạt, sáng tạo trong việc thay đổi các hình thức và phƣơng pháp giảng dạy, điều chỉnh các nội dung dạy học hợp lý để tạo hứng thú trong giờ dạy Tiếng Việt. Ghi nhớ máy móc của trẻ lớp 3 chiếm ƣu thế và phát triển tƣơng đối tốt hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa.
Nhiều học sinh chƣa có khả năng nhiều trong ghi nhớ có ý nghĩa, trong học tập, HS chƣa biết bám vào các điểm tựa để ghi nhớ sự vật, hiện tƣợng, chƣa biết cách hệ thống hóa, khái quát hóa hay xây dựng dàn bài một cách có thứ tự, logic và khoa học để ghi nhớ văn bản, tài liệu trong học tập. 17 Đối với HS lớp 3, khả năng ghi nhớ có chủ định đã bƣớc đầu hình thành và phát triển. Tuy vậy, việc ghi nhớ có chủ định chƣa đạt hiệu quả nhƣ mong muốn, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nhƣ: mức độ, khả năng tích cực tập trung trí tuệ, sức hấp dẫn của hình thức và nội dung của hoạt động hay tài liệu, các yếu tố tác động có ảnh hƣởng trực tiếp đến tâm lý , tƣ tƣởng, tình cảm hay say mê, hứng thú của các em. Trong quá trình giảng dạy, GV cần luôn thiết kế, thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động để giúp các em nhận thức và biết cách khái quát hóa vấn đề từ đơn giản đến phức tạp dần lên .