CHƯƠNG I: LY LUAN CHUNG VE VAN ĐÈ XÁC ĐỊNH GIÁ THỊ TRƯỜNG TRONG GIAO DICH GIU'A CAC BEN LIEN KET 1. Lý luận chung về giao dịch liên kết: 1. Các khái niệm về giao dịch liên kết: Trong xu thể hội nhập quốc tế và toàn cầu hỏa, các quốc gia có nhiều cơ hội phát huy lợi thế của mình nhằm thúc đây phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, các quốc gia cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, và vẫn đề chuyên giá trong các giao dịch liên kết là một trong những thách thức phải vượt qua, nêu không lợi ích của quốc gia sẽ bị xâm phạm.
Biểu 9 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA) và Hiệp định mẫu của Tổ chức Ilợp tác kinh tế của các nước phát triển (OECD) quy định rằng: "Khi điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt giữa hai xí nghiện liên kết trong mỗi quan hệ thương mại hoặc tài chính khác với những điều kiện được đưa ra giữa các xí nghiệp độc lập, lúc dé moi khoản lợi tức mà một xí nghiệp có thể thu được nếu không có những điều kiện trên nhưng nay vì những diều kiên này mả xí nghiệp đó không thu dược, sẽ vẫn bị tính vào các khoản lợi tức của xí nghiệp đó và vẫn bị đánh thuế tương ứng". Điều này có nghĩa là giá trong giao dịch liên kết phái tương dương với mức giá áp dụng nêu giao địch đó được tiễn hành giữa các bên độc lập, Trong quy định trên có một số khá: niệm cẦn được làm rõ: Các eiao dịch liên kết: là giao dịch kinh doanh giữa các bên liên kết Các bên liên kết: các bên được coi là "có quan hệ liên kết" khi: - Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soái. góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia. - Các bên Irực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát.
góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác. - Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào mệt bên khác. Các giao dịch độc lập: là giao dich kinh doanh giữa các bên không có quan hệ liên kết trong khuôn khổ kinh doanh thông thường. Ngoài ra, một số khái niệm sau đây cũng cân được làm rõ: Giá thị trường: là giá sản phẩm theo thỏa thuận khách quan trong giao dịch kinh doanh trên thị trường giữa các bên không có quan hệ liên kết (hay còn gọi là các bền độc lập).
Giá chuyển nhượng: là giá dược sử dụng trong các giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết. Do tính chất là niao dịch giữa các công ty trong cùng tập doàn nên giá chuyển nhượng thường không phản ánh được tính kinh tế của giao dịch và không dựa trên cơ sở giả thị trường. Khác biệt trọng yêu: là khác biệt về thang Lin và/hoặc dữ liệu có ảnh hưởng quan trọng hoặc dáng kể dễn giá sản phẩm. Thử nghiệm nhằm xúc định giau dịch liên kết: Nhằm mục đỉch xác đình các bên eó quan hệ liên kết hay không, các thử nghiệm thường dược tiễn hành bao gồm: Thứ nhất, thứ nghiệm về quyền kiếm soát (Control test) Thử nghiệm về quyền kiểm soát được thực hiện dưới 2 hình thức thông qua quyền sở hữu vễn và mồi quan hệ về vay vốn.
Dựa vào quyền sở hữu vốn, có thể xác định hai cơ sở kinh doanh cỏ quan hệ liên kết trong mội kỳ tính thuế, nếu: - Một cơ sở kinh doanh nắm giữ trực tiếp hoặc giản tiếp it nhất 20% vấn cô phản hoặc tổng tải sản của cơ sở kinh doanh kia - Cả hai co sở kinh doanh dễu có ít nhất 20% vốn cổ phân hoặc tang tài sản do một cơ sở kinh doanh hoặc bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp. A Sa hoy trén 20% U-- Set hity tras 20%. ConeTyB | Công Ty C Công ty B và Công ty C cô quan hệ liên kết vì clung duoc cing ty A năm giữ hơn 20% vốn cô phần. li CôngTvA R22 80%¿ | E1; + a — Công 'Iv lì 20% = Il —t —_ t , 1 | Cing Ty C | | CéngTyD | 4 Công ty C và công ty D có quan hệ liên kết vì cùng được công ty Á nắm giữ hơn 20% vấn cô phần.
- Một cơ sở kinh doanh là cỗ đông lớn nhất nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp cỗ phân có giá tri it nhat 10% vốn cỗ phần hoặc tổng Lài sản của một cơ sở kinh doanh khác, Dựa vào mỗi quan hệ vay vốn có thể xác định hai cơ sở kinh doanh có quan hệ liên kết trong một kỷ tính thuế nêu một cơ sở kinh doanh bảo lãnh hoặc cho một cơ sở kinh doanh khác vay vỗn dưới bất kỳ hình thức nảo với điều kiện khoản vay chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và đài hạn của co sở kinh doanh đi vay. Thứ hai, thử nghiệm đối với quyền quản trị Hai cơ sở kinh doanh sẽ được coi là có quan hệ liên kết trang một kỹ tinh thuê nếu trong kỳ đỏ: - Một cơ sở kinh doanh chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của một cơ sở kinh doanh khác với điều kiện số lượng các thành viên được cơ sở kinh doanh thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tông số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm suát của cơ sở kinh doanh tha hai. - Một thành viên được cơ sở kinh doanh thứ nhất chỉ định cỏ quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của cơ sở kinh doanh thứ hai. - Hai cơ sở kinh daanh cùng có trên 50%⁄ thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viễn ban lãnh dạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thử ba.
- Hai cơ sở kinh doanh được diễu hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân cùng là thành viên của một gia đình trong các mối quan hệ giữa vợ và chẳng; bỗ, mẹ vả các con (không phân biệt cơn dẻ, con nuôi hoặc con đầu, con rể); anh, chị, em có củng cha. mẹ (không phân biệt cha, mẹ đẻ, cha, mẹ nuôi), ông bà và cháu có quan hệ huyết thống: cô, chú, bác, edu, di và chán có quan hệ huyết thống với nhau. Thứ ba, các thử nghiệm khác: Hai cơ sở kinh doanh sẽ được coi là có quan hệ liên kết khi: - Hai cơ sở kinh doanh có mỗi quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường. x * z ˆ * xe trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của 1õ chức, cá nhân nước ngoài.
- Mật cơ sở kinh doanh sản xuất, kinh doanh sản phẩm sử dụng tải sản vô hình vả/hoặc quyền sở hữu trí tuệ của một cơ sở kinh doanh khác với điều kiện chi phí phải trả cho việc sử dụng tài sản vô hình và/hoặc quyền sở hữu trí tuệ đó chiếm trên 50% giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm. - Một cơ sở kinh doanh cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% tổng giá trị nguyễn vật liệu, vật tư hoặc sản phâm đầu vào (không bao gồm chỉ phí khấu hao đối với tải sản có định) để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm dẫu ra có liên quan của một cơ sở kinh daanh khác. - Một cơ sở kinh doanh kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% sản lượng tiêu thụ (tính theo từng chủng loại sản phẩm) của một cơ sở kinh doanh khác. - Hai cơ sở kinh doanh có thỏa thuận hợm lác kinh doanh trên cơ sở hợp đẳng.
Như vậy, có thể kết luận rằng nếu thỏa mãn một dâu hiệu trong các thử nghiệm trên thì có nghĩa là các bên liên quan có quan hệ giao dịch liên kết, va khả nãng chuyên giá có thể xây ra. ¥ nghĩa của việc xác định giá thị trường trong các giao dịch liên £ ket: - Xúc định giá thị trưởng trong các giao dịch liên kết có ý nghĩa quan trọng giúp ngăn chặn được thất thuát thuế thu nhập, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước. Việc sử dụng giá chuyển nhượng có thể mang lại một số lợi ích không hợp pháp vẻ thuế cho công ty da quốc gia vì chuyên giá là việc thông đồng giữa các công ty con eta cling mat tập đoản - công ty liên kết - nhằm chuyên lợi nhuận từ quốc gia này sang quốc giá khác để tránh thuế. Đối với các tập doàn kinh tế da quốc gia.
chuyển giá có thể là một công cụ có ích để tăng lợi nhuận khi giảm được nghĩa vụ từ việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp Các hoạt động liên doanh, liên kết những năm đầu thường lỗ (theo kế hoạch), có trường hợp đổi tác có Linh lỗ thông qua việc chuyển giá để mua lại phần vốn của doanh nghiệp Việt Nam. Tình trạng lỗ nảy giúp giảm thiểu nghĩa vụ thuế cho công ty đa quốc gia. Thông qua việc đặt công ty con có chức năng phâr: phối tập trung tại nước không có quy dịnh về giá chuyển nhượng hay có quy dịnh nhưng không thực thí, sắp xếp giao dịch thẳng qua các công ty tại các nước mà Hiệp định thuế có lợi cho giá chuyển nhượng. Do đó, chẳng chuyển giá hiệu quá sẽ có ý nghĩa buộc các công ty liên kết phái kê khai các giao dịch liên kết của mình theo nguyên tắc giả thị trường Chính vi vậy, việc xác dịnh giá thị trường trong các giao dịch liên kết có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự cần thiết nhằm Ado vệ nguồn thu ngắn sách, đẳng thời thể hiện mỗi quan tâm của cơ quan thuế về hành vi chuyển lợi nhuận nhằm trốn thuế của các doanh nghiệp.
- Xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết giúp giảm giá thành sản phẩm, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và bảo vệ lợi ích của cỗ đông thiểu số. Dễ thực hiện chuyển giá trong các giao dịch liên kết, các công ty liên kết xác định giá chuyển nhượng sao cho có lợi nhất về mặt thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Điều này dẫn đến việc giá thành của sản phẩm được xác định không dựa trên nguyên tắc giá thị trường, đây giá thành sản phẩm lên cao. Hệ quả của vấn dễ chuyến giá đó là một bên liên kết sẽ phải chịu mức giá cao hơn khi so sánh với mức giá hợp lý của các giao dịch giữa các bên độc lập và khi đó.
người tiêu dùng buộc phải chịu mức giá cao hơn.