Luận văn Thạc sĩ: xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại các đài

Nghiên cứu quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại các đài phát thanh truyền hình Việt Nam, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển.

Chuyên ngành

Báo chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

158
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Phương pháp nghiên cứu luận văn về xã hội hóa truyền hình tại các đài địa phương

Phương pháp nghiên cứu luận văn tập trung vào phân tích các mô hình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, kết hợp các công cụ như khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu, phân tích số liệu thống kê và nghiên cứu trường hợp tại các đài Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình. Việc lựa chọn các phương pháp này giúp làm rõ thực trạng, ưu nhược điểm cũng như đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả xã hội hóa truyền hình địa phương, đảm bảo tính khách quan, toàn diện và khoa học.

1.1. Khảo sát thực tiễn và phỏng vấn sâu

Phân tích các chương trình xã hội hóa đã được phát sóng, lấy ý kiến từ các cán bộ, lãnh đạo đài, đối tác sản xuất để hiểu rõ các khâu quản lý, nội dung, kỹ thuật, và các khó khăn, thách thức tồn tại trong quá trình thực hiện.

1.2. Phân tích số liệu thống kê và nghiên cứu các mô hình hợp tác

Áp dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu về nguồn lực, tỷ lệ tự sản xuất, hình thức liên kết, xác định rõ các mô hình thành công, hạn chế của hoạt động xã hội hóa truyền hình tại địa phương.

II. Thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại các đài địa phương vùng đồng bằng sông Hồng

Các đài phát thanh truyền hình khu vực đồng bằng sông Hồng đã tiến hành mở rộng hoạt động xã hội hóa nhằm đa dạng hóa nội dung, giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như thiếu nhân lực chuyên môn, hạn chế về thiết bị kỹ thuật, nội dung chưa có bản sắc riêng và chưa khai thác tối đa các nguồn lực xã hội.

2.1. Nâng cao tỷ lệ nội dung xã hội hóa và các hình thức liên kết

Các đài củng cố các mô hình hợp tác: đặt hàng, liên kết, trao đổi chương trình, hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức chính trị xã hội để mở rộng hoạt động sản xuất nội dung.

2.2. Các hạn chế trong hoạt động xã hội hóa truyền hình

Thiếu đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, công nghệ kỹ thuật lạc hậu, nội dung chưa có nét bản sắc, quản lý thiếu chặt chẽ, dẫn đến chất lượng và hiệu quả chung còn hạn chế.

2.3. Hiệu quả và tiềm năng phát triển

Hoạt động xã hội hóa góp phần làm phong phú nội dung, tăng doanh thu, nâng cao chất lượng truyền hình, song còn cần các giải pháp nâng cao năng lực tổ chức, quản lý và kỹ thuật công nghệ.

III. Bí quyết và giải pháp nâng cao hiệu quả xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Để thúc đẩy hoạt động xã hội hóa truyền hình tại các đài địa phương, cần xây dựng chiến lược dài hạn, cải thiện nhận thức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, mở rộng hợp tác về kỹ thuật, nguồn lực tài chính, xây dựng nội dung đa dạng, độc quyền và có bản sắc đặc trưng. Đồng thời, tăng cường luật pháp, chính sách hỗ trợ, kiểm soát chất lượng, quản lý nội dung chặt chẽ để đảm bảo nguyên tắc chính trị, phù hợp từng vùng miền.

3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của xã hội hóa truyền hình

Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, kỹ thuật, biên tập viên và các đối tác xã hội hóa nhằm tạo đồng thuận và ý thức trách nhiệm cao.

3.2. Phát huy nguồn lực nội tại và mở rộng hợp tác xã hội

Tăng cường liên kết doanh nghiệp, tổ chức chính trị, các trường đào tạo, các tổ chức xã hội để đa dạng nội dung, nâng cao chất lượng, phù hợp đặc thù từng vùng miền và hướng đến các chương trình mang bản sắc riêng.

3.3. Chính sách pháp lý đồng bộ kiểm soát chặt chẽ

Xây dựng các quy chế, quy trình rõ ràng trong quản lý nội dung, hợp đồng, kiểm duyệt chất lượng và giám sát hoạt động xã hội hóa theo đúng pháp luật, kiểm soát nội dung, không để bị chi phối quá mức bởi lợi ích thương mại.

IV. Các giải pháp phát triển bền vững hoạt động xã hội hóa truyền hình địa phương

Đẩy mạnh hợp tác công – tư, xây dựng hệ thống đối tác đa dạng, mở rộng các hình thức liên kết nội dung, kỹ thuật, tài chính. Nâng cao công nghệ truyền dẫn và kỹ thuật sản xuất hiện đại; quản lý nội dung chặt chẽ, đồng bộ với chính sách phát triển của địa phương và tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, xây dựng thương hiệu, hình ảnh kênh phù hợp với đặc thù vùng miền, phát huy nội lực và huy động tối đa nguồn lực xã hội, nâng cao chất lượng nội dung và công nghệ sản xuất để cạnh tranh hiệu quả trong thời đại số.

4.1. Phát triển mô hình liên kết và hợp tác đa dạng

Xây dựng các dự án cụ thể, mở rộng nội dung chương trình phối hợp từ sản xuất đến phát sóng, bao gồm các chương trình văn hóa, xã hội, giáo dục, giải trí phù hợp từng nhóm khán giả địa phương.

4.2. Ứng dụng công nghệ số và truyền dẫn hiện đại

Trang bị hạ tầng kỹ thuật tiên tiến như truyền hình số, internet băng thông rộng, công nghệ OTT, mô hình truyền dẫn đa dạng để nâng cao chất lượng, mở rộng phủ sóng và tăng khả năng tương tác với khán giả.

4.3. Quản lý nội dung và phát triển bản sắc truyền hình địa phương

Xây dựng quy trình nội dung rõ ràng, kiểm duyệt chặt chẽ, xuyên suốt theo hướng phản ánh chính xác đặc trưng vùng miền, giá trị văn hóa và tôn chỉ chính trị của địa phương trong kênh truyền hình.

V. Tương lai của xã hội hóa truyền hình địa phương trong thời đại số 4

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và chuyển đổi số, hoạt động xã hội hóa truyền hình địa phương sẽ phát triển mạnh mẽ thông qua việc ứng dụng các nền tảng truyền thông số, mạng xã hội, các hình thức trải nghiệm tương tác đa chiều. Các mô hình hiệu quả sẽ dựa trên tích hợp công nghệ, nội dung bản sắc, và phương thức hợp tác toàn diện giữa các đơn vị, doanh nghiệp, cộng đồng để phù hợp xu thế mới. Đồng thời, nâng cao năng lực điều hành, quản lý nội dung theo chuẩn mực pháp luật và nguyên tắc chính trị, phối hợp tốt giữa chính quyền và doanh nghiệp để giữ vững vai trò truyền thông chính trị-xã hội. Phát triển các nội dung sáng tạo, phù hợp xu hướng tiêu dùng của khán giả trẻ, đa dạng thể loại, mang đặc trưng vùng miền, thúc đẩy truyền thống văn hóa, đồng thời tạo ra giá trị về kinh tế và thương hiệu địa phương.

5.1. Hội nhập công nghệ truyền thông số và mạng xã hội

Xây dựng hệ sinh thái truyền thông tích hợp: phát triển các nền tảng phát trực tuyến, truyền hình đa nền tảng, tối ưu hiển thị trên các thiết bị di động, kết nối mạng xã hội như Facebook, YouTube, Zalo để tiếp cận khán giả hiệu quả.

5.2. Phát huy tối đa nguồn lực cộng đồng và doanh nghiệp

Tạo các cuộc thi, chương trình cộng đồng, liên kết với doanh nghiệp địa phương và trung ương trong sản xuất nội dung, tạo dựng thương hiệu, giới thiệu văn hóa và thực hành chính sách xã hội toàn diện qua các kênh truyền hình số.

5.3. Đảm bảo nguyên tắc chính trị xã hội trong nội dung số

Kiểm soát nội dung, quy trình kiểm duyệt chặt chẽ, hướng tới nội dung lành mạnh, phù hợp đạo đức, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, góp phần xây dựng môi trường truyền thông lành mạnh, phát huy giá trị văn hóa vùng miền trong thời đại công nghệ số.

13/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán gia’ [34, tr. Nhu vay, cac quan niém trén tuong đối thống nhất với khái niệm được đề xuất trong từ điển Tiếng Việt về cách hiểu “chương trình”. Từ các quan điểm trên, có thể tiếp cận khái niệm “chương trình truyền hình ” ở các khía cạnh như sau: 17 Từ góc độ kỹ thuật truyền tải thông tin, chương trình truyền hình được xem là một tông thể logic các chất liệu chứa thông tin trên cơ sở những nguyên tắc phối hợp nhất định để đạt được mục đích đưa ra được thông điệp cụ thể, rõ ràng khi xây dựng chương trình. Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” của tác giả Trần Bảo Khánh, khái niệm “chương trình truyền hình” được hiểu là “kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng.30]Điều này có thê được lý giải là chương trình truyền hình được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thê.

Những thông tin mà chương trình truyền hình cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận. Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì thế đòi hỏi phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thê tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu. Mở rộng ra, sự lựa chọn đó bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp thê hiện, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người. Chính sự lựa chọn đó sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các đài truyền hình.

Từ góc độ vai trò của “chương trình” trong sứ mệnh thông tin của Kênh truyền hình, chương trình được hiểu là “hình thức thể hiện thực tế, là sự vật chất hóa sự tôn tại của truyễn hình trong xã hội ” [40, tr. Chương trình là linh hồn của các đài truyền hình. Không có chương trình thì cũng không có truyền hình. Cùng với sự phát triển của công nghệ truyền hình, những yêu cầu thông tin từ xã hội, các dạng thức chương trình ngày cảng trở nên phong phú.

Báo cáo Tổng kết công tác năm 2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu rõ: Hiện 18 nay, trên ca nuoc co 67 Dai PT- TH Trung wong va dia phuong va 281 kénh truyền hình. Số lượng đâu mục chương trình cũng tăng lên nhanh chóng. Đề thuận tiện cho công tác quản lý cũng như làm chủ các hoạt động sản xuất chương trình, ngay từ rất sớm, người ta đã quan tâm đến việc phân nhóm chương trình truyền hình. Cho đến nay, tiêu chí để phân loại chương trình truyền hình chưa thống nhất.

Theo tác giả Trần Bảo Khánh, một số nước phát triển phân chia thành 2 loại chương trình truyền hình: (I)loại sản xuất trực tiếp với hai tiểu loại là sản xuất trong studio và sản xuất ngoài trời, (2) loại sản xuất có hậu kỳ. Chương trình truyền hình được bắt đầu thực hiện sau khi kịch bản được duyệt. Việc thực hiện được tiễn hành trong điều kiện đặc thù của truyền hình, nó phụ thuộc nhiều vào khả năng, trang bị kỹ thuật từ khi bắt đầu đến khi phát sóng tới máy thu cho người xem. Khái niệm về xã hội hóa sản xuấtchương trình truyền hình Xã hội hóa truyền hình là sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình truyền hình (CTTH) của đối tác ở ngoài đài TH, ngoài ngành TH.Trước kia, các chương trình truyền hình lên sóng đều là sản phẩm của Đài truyền hình, sản xuất chương trình với nguồn lực, thiết bị kỹ thuât và các điều kiện khác của đài truyền hình.

Hiểu theo cách khác,xã hội hóa sản xuất các chương trình của đài truyền hình là việc huy động các nguồn (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất) từ các tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài đài truyền hình tham gia vào quá trình sản xuất các chương trình truyền hình, nhằm giảm bớt áp lực cho các đài truyền hình cả về nhân lực và các phương tiện kỹ thuật trong hoạt động truyền hình. Cách làm này khác với phương thức chỉ dựa vào nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, ngân sách của bản thân các đài truyền hình để thực hiện sản xuất các chương trình truyền hình. 19 Nhìn từthực tế, các đơn vị như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh.nhờ đây mạnh công tác XHH mà đã tự cân đối được kinh phí cho toàn bộ hoạt động của mình. Hiểu theo cách khác, việc XHH sản xuất các chương trình truyền hình đã tăng thêm sức sống, tính đa dạng, phong phú về nội dung các chương trình truyền hình.

Đây có thể coi là một tư duy mới, một cách nhìn mới của những người làm truyền hình nước ta hiện nay. Hiện nayđã và đang được nghe nhắc nhiều đến việc mua bản quyền các chương trình truyền hình, một xu thế chủ yếu thê hiện tính chuyên nghiệp của ngành truyền hình hiện đại. Đài truyền hình lúc này không phải ôm đồm toàn bộ các khâu sản xuất chương trình, mà thay vào đó có thể đặt hàng một SỐ đơn vị bên ngoài (chuyên làm về một lĩnh vực nào đó của truyền hình) hoặc phối hợp với họ đề tổ chức sản xuất chương trình. Thực chất vấn đề kinh tế và chi phí sản xuất là yếu tố chi phối chủ yếu quá trình xã hội hóa sản xuất truyền hình ở nước ta.

Ở một khía cạnh nào đó, các đơn vị ngoài Đải truyền hình nếu có nhu cầu đều có thể thành lập công ty, phát triển tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình, miễn sao có kinh phí hoạt động. Về phía các đài truyền hình, muốn đặt hàng chương trình nào đó để phát sóng cũng cần phải có sự đảm bảo về kinh phí. Hiểu theo nghĩa rộng, xã hội hoá việc sản xuất các chương trình truyền hình là huy động các nguồn lực (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất) từ các tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài đài truyền hình để sản xuất các chương trình truyền hình. Cách làm này khác với cách làm chỉ dựa vào nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và ngân sách của bản thân đài truyền hình đề thực hiện sản phẩm truyền hình.

Theo nghĩa này, xã hội hoá việc sản xuất sản phẩm (chương trình) truyền hình đã diễn ra từ lâu, với các hình thức rất khác 20 nhau nhưng bây giờ việc này tiến hành rộng rãi và có quy mô, hiệu quả cao hơn. Từ khía cạnh nguồn lực tài chính, các đài truyền hình đã tự chủ tải chính như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh.dựa vào phương thức này mà trang trải cho toàn bộ hoạt động của mình. Theo nghĩa hẹp hơn, xã hội hoá việc sản xuất các chương trình, sản phẩm truyền hình là: Có các đơn vị, tổ chức, có thể cả cá nhân ngoài đài cung cấp trọn vẹn sản phẩm theo yêu cầu của đài để phát sóng. Như vậy, sẽ có nhiều đơn vị thuộc nhiều thành phần kinh tế - xã hội khác nhau thực hiện trọn gói các sản phẩm truyền hình, nhưng việc phát sóng thì thuộc quyền quản lý của các đài truyền hình.

Xã hội hoá việc sản xuất chương trình truyền hình khác với tư nhân hoá, thương mại hoá, lại càng không phải là “chia lô sóng truyền hình ra bán”. Nhiều người đã hết sức lo ngại về hệ quả xu thế xã hội hoá truyền hình. Quan niệm cho răng, thực chất đây có phải là tư nhân hoá truyền hình, là thương mại hoá báo chí, là “bán sóng truyền hình” là không chính xác. Truyền hình là một loại hình truyền thông đòi hỏi chỉ phí rất cao, hiện nay với nguồn kinh phí còn khiêm tốn được phân bồ từ nguồn ngân sách, diện phủ sóng vả nguồn thu quảng cáo hạn chế, cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật còn thiếu và không đồng bộ nhưng phải liên tục đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung chương trình, tăng thời lượng phát sóng.

là bài toán khó đối với các đài PT-TH địa phương. Việc thu hút các nguồn lực bên ngoài là một trong những giải pháp phù hợp trong quá trình vận động và phát triển hiện nay. Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình hiện nay ở các đài địa phương là nhằm thu hút, tập hợp một lực lượng lao động có nghiệp vụ chuyên môn báo chí và nguồn lực trí tuệ từ ngoài xã hội như các học giả, các chuyên gia tâm lý, kinh tế, xã hội học tham gia vào công việc làm báo thông 21 qua các chương trình đối thoại, tư vấn., từ đó làm tăng tính đa dạng, phong phú nội dung chương trình. Việc đặt hàng trọn gói, hoặc giao khoán, trao đổi một công đoạn nào đó với một đơn vị ngoài Đài trong quy trình sản xuất chương trình truyền hình cũng là giải pháp hiệu quả để tăng sự hấp dẫn của kênh sóng mỗi Đài, trong khi các điều kiện như nguồn nhân lực, trang thiết bị, kinh phí còn eo hẹp hiện nay.

Với cách hiểu theo những khái niệm nêu trên, xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực truyền hình hay trong sản xuất chương trình truyền hình cũng chính là dé thu hút nguồn lực xã hội bên ngoài ngành truyền hình tham gia vào các hoạt động của lĩnh vực này.Như vậy, xã hội hoá việc sản xuất các chương trình truyền hình là tạo những điều kiện tốt nhất để các tổ chức cá nhân có thể hợp tác bình đẳng với các đài truyêền hình để sản xuất chương trình truyền hình. Việc cạnh tranh giữa các chương trình của các đài truyễn hình với các đối tác không nằm trong hệ thống truyền hình hiện nay sẽ góp phân tích cực và lành mạnh vào việc nâng cao chat lượng, hiệu quả của các chương trình.Quan điểm của Đảng và nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí nói chung, truyền hình nói riêng Từ khi thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI cho đến nay, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực. Nồi bật nhất là đổi mới kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đã khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân. Đường lối đổi mới, nhất là đổi mới tư duy kinh tế vừa thúc đây sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vừa tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường, qua đó thu hút ngày cảng nhiều các thành phần kinh tế, tiềm lực xã hội đóng góp cho sự phát triển chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ