CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu về quản lý phát triển chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo Các nghiên cứu về “Chương trình giáo dục, Chương trình môn học” như: “Phát triển chương trình giáo dục” – tác giả Nguyễn Đức Chính – Vũ Lan Hương (2015); tác giả Trần Khánh Đức với bài viết: “Phát triển và đánh giá chương trình đào tạo giáo viên trong nền giáo dục hiện đại”. Công trình và bài viết đã đề cập đến các tiêu chí đánh giá, qui trình đánh giá chương trình giáo dục; đã phân tích các yêu cầu đối với việc cấu trúc nội dung, phân bổ thời lượng chương trình giáo dục cho phù hợp. Bên cạnh đó cũng đã có nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến HĐTNST nói chung và HĐTNST trong nhà trường nói riêng như: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam của tác giả Đỗ Ngọc Thống, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới – tác giả Lê Huy Hoàng, Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo giải pháp phát huy năng lực người học – tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài.
Trong bài nghiên cứu có nhan đề Mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã chỉ ra để phát triển chương trình HĐGDTNST cần phải xác định và xây dựng được khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra. Tác giả Bùi Ngọc Diệp đã gợi ý các hình thức tổ chức HĐTNST có thể tổ chức được nhiều nhất, hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong bài Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông. Tóm lại, đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về Chương trình giáo dục, phát triển chương trình giáo dục, quản lý phát triển chương trình giáo dục, cũng như HĐTNST và quản lý HĐTNST. Tuy nhiên công tác quản lý phát triển chương trình HĐTNST tại trường TH vẫn chưa có tác giả nào xem xét, đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ để từ đó đưa ra hướng quản lý phát triển cho nó đáp ứng ngày một tốt hơn với nhu cầu xã hội.
Một số vấn đề trong lý luận quản lý giáo dục 1. Quản lý giáo dục * Quản lý Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Mỗi khuynh hướng trong lĩnh vực này đều cho ra đời những định nghĩa về quản lý dựa vào cách thức xâm nhập vào hệ thống quản lý, đường lối xử lý các vấn đề quản lý: F.Taylor (Frederich Winslow Taylor: nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận ): xuất phát từ nhu cầu khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động, nhằm tăng năng suất lao động, cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật hiểu biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A.Fayon thì: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân tài, vật lực) của nó”.
Harold Koont , người được gọi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại, đã viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống” [32]. - Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[28]. Qua tìm hiểu tôi thống nhất với quan điểm: Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống. * Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là quản lý lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống; giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển.
Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. Quản lý giáo dục là điển hình nhất vì đây là quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách. Sự hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài. Khái niệm “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “Giáo dục”.
“Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” được coi là hoạt động diễn ra ở ngoài xã hội. Còn khi “Giáo dục” được diễn ra trong ngành giáo dục (từ Bộ giáo dục & đào tạo đến cơ sở trường học hay các trung tâm kỹ thuật tổng hợp & hướng nghiệp) thì “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý một hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường… Để hiểu một cách chính xác hơn về “Quản lý giáo dục”, ta xem xét quan niệm sau đây: Theo M. Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tập h p nh ng biện pháp kế hoạch hóa nh m đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, m rộng hệ thống cả về số lư ng c ng như 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất lư ng. Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đ ch, có kế hoạch, h p quy luật của chủ thể quản lý, nh m cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện đư c các t nh chất của nhà trường xã hội chủ ngh a Việt Nam tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ tr , đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến đến trạng thái mới về chất”.
Nói chung, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội. Thực chất của việc quản lý giáo dục là việc các ngành các cấp, từ trung ương tới địa phương hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược tạo điều kiện thuận lợi của các hoạt động nhà trường đạt được mục tiêu đề ra. Bản chất của việc quản lý hoạt động giáo dục tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới một mục tiêu giáo dục.
* Quản lý nhà trường Trường học là tế bào chủ chốt trong hệ thống giáo dục. Một hệ thống giáo dục hoạt động có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ mà xã hội giao phó khi các “tế bào trường học” vận hành tốt, đạt được mục tiêu đề ra. Công tác quản lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường và các hoạt động xã hội. Quản lý trường học như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố: - Thành tố tinh thần: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, các kế hoạch, biện pháp giáo dục.
- Thành tố con người: cán bộ, GV, nhân viên và HS. - Thành tố vật chất: CSVC, tài chính, các trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập. Vấn đề đặt ra trong quá trình QLNT là vận hành để các thành tố trên có sự gắn bó, hỗ trợ, điều phối, bổ sung cho nhau để đạt được mục tiêu đặt ra. Theo Phạm Minh Hạc: “QLNT là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục, mục tiêu đào tạo đơn vị ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”.
Theo Phạm Viết Vượng thì “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các lao động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác. Cũng như huy động tối đa các nguồn lực GD&ĐT trong nhà trường”. Như vậy, QLNT phổ thông là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực theo nguyên lý giáo dục. Nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục.
Trọng tâm của nó là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục tiến lên trạng thái mới về vật chất. Do đó công tác QLGD nói chung, quản lý trường học nói riêng, gồm có quản lý các HĐGD diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau: - Quản lý hoạt động dạy học. - Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. - Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức. - Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể. - Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính. Vì vậy, QLNT về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác, vì sản phẩm của giáo dục đó là tri thức, nhân cách của HS.
QLNT là một hoạt động dựa trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng dựa vào nguyên lý giáo dục. Người đứng đầu trong nhà trường và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của nhà trường đó là hiệu trưởng. Để đạt được mục tiêu của giáo dục trong một cơ sở giáo dục là nhà trường, thì người quản lý cần phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường.