Chương 1: GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI 1986 – 1992 1. Giáo dục phổ thông Việt Nam trước năm 1986 1. Cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông trước 1986 Trước đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông trước năm 1986 có nhiều chuyển biến điều này được thể hiện khá rõ qua các lần thực hiện cải cách giáo dục. Từ năm 1956 đến năm 1976, tại miền Bắc Việt Nam, theo quy định của Bộ Giáo dục cụ thể dựa theo Nghị định 596 ngày 30/8/1956 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên các trường phổ thông sẽ tổ chức theo hệ thống trường phổ thông 10 năm.
Hệ thống trường phổ thông 10 năm chia làm 3 cấp học, cấp 1: 4 năm: từ lớp 1 đến lớp 4, cấp 2: 3 năm: từ lớp 5 đến lớp 7, và cấp 3: 3 năm: từ lớp 8 đến lớp 10. Năm học gồm 9 tháng và chia làm 4 học kỳ: Học kỳ 1 từ ngày 1 tháng 9 đến ngày 30 tháng 10 (2 tháng). Học kỳ 2 từ ngày 2 tháng 11 đến ngày 31 tháng 12 (2 tháng). Học kỳ 3 từ ngày 4 tháng 1 đến ngày 2 tháng 3 (2 tháng).
Học kỳ 4 từ ngày 5 tháng 3 đến ngày 31 tháng 5 (3 tháng)1. Tháng 4 năm 1975 cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi hoàn toàn. Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, đối với lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục của miền Nam nói riêng, Chính phủ đã tập trung vào hai nhiệm vụ chính: một là cơ cấu lại hệ thống giáo dục phổ thông, hai là thực hiện xóa mù chữ cho nhân dân trong độ tuổi 12 – 50 tuổi. Khi đất nước thống nhất ở Việt Nam có hai cấu trúc hệ thống giáo dục song song tồn tại và có nhiều điểm khác biệt: Miền Bắc tiếp tục hệ 10 năm và miền Nam tiếp tục hệ 12 năm.
Sự khác nhau về hệ thống cơ cấu giáo dục đòi hỏi Đảng và Ngành 1 Nguồn: Nghị định 596. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giáo dục phải nhanh chóng có biện pháp cụ thể để thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông tại hai miền theo một cơ cấu hệ thống thống nhất trong cả nước. Căn cứ vào xu thế chung, Đảng và Nhà nước đã quyết định chuyển hệ thống giáo dục phổ thông sang hệ 12 năm. Nhiệm vụ này được tiến hành từng bước.
Bước sang năm 1981 cơ cấu hệ thống giáo dục miền Bắc có sự điều chỉnh chuyển sang hệ 11 năm. Ở cấp 1 nay điều chỉnh số năm học từ 4 năm thành 5 năm (thêm lớp 5)2. Bên cạnh việc thống nhất cơ cấu hệ thống giáo dục hai miền và cố gắng hoàn thiện, phủ kín các trường cấp I trên cả nước, Ngành còn chuẩn bị các điều kiện để tách các trường cấp II ra khỏi trường cấp III, hình thành nên trường trung học cơ sở (cấp II). Tính đến năm học 1980 – 1981 trên phạm vi cả nước số trường PTCS bao gồm cả cấp 1 và cấp 2 còn tồn tại khá nhiều khoảng 11.240 trường [42, tr.
Ngành giáo dục phổ thông đã từng bước thực hiện công tác tách trường cấp I khỏi cấp II và hình thành trường tiểu học cấp I và THCS riêng biệt. Từ năm học 1981 – 1982 số trường PTCS bao gồm cả cấp I và cấp II có xu hướng giảm tuy nhiên tốc độ giảm còn chậm và chưa ổn định so với năm 1980 – 1981 số trường này đã giảm 104 trường. Đến năm 1985 – 1986 số trường PTCS giảm xuống còn 9.851 trường trong đó có khoảng 334. Trong quá trình triển khai cuộc cải cách giáo dục lần ba đã gặp rất nhiều khó khăn và bộc lộ một số hạn chế.
Hạn chế lớn nhất là, mục tiêu và 2 Nghị định 596. 3 Trích nguồn “số liệu thống kê giáo dục và đào tạo 1945 – 1995” của Bộ giáo dục và đào tạo, Trung tâm thông tin và quản lý giáo dục năm 1995. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giải pháp thiếu tính khả thi điều này được thể hiện rõ trong việc tiến hành kế hoạch hóa tập trung quan liêu, là việc sáp nhập trường cấp I và cấp II thành trường phổ thông cơ sở 9 năm. Vì các điều kiện thực tế không cho phép nên những trường lớp đã sáp nhập sau một thời gian đều phải tách trở lại.
Mặt khác thời kì này tư tưởng, quan niệm bao cấp vẫn còn nặng nề, nhấn mạnh giáo dục là “phúc lợi xã hội” chính điều này đã cản trở sự phát triển giáo dục. Ngoài ra hạn chế còn được thể hiện trong việc ngành giáo dục muốn phát triển quy mô lớn, muốn bao cấp về giáo dục cho mọi đối tượng, muốn phổ cập giáo dục toàn dân… Trong khi đó lại thiếu sự chuẩn bị về nguồn lực và thực sự không thể đảm bảo về nguồn lực do chiến tranh biên giới và kinh tế suy thoái. Thực trạng giáo dục phổ thông Việt Nam trước năm 1986 Quy mô hệ thống giáo dục phổ thông trước năm 1986 Sau ngày giải phóng, Việt Nam phải tiếp quản và cải tạo hệ thống các trường phổ thông cũ ở miền Nam, xây dựng phát triển ngành học phổ thông xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cũng như trên phạm vi cả nước. Mạng lưới trường phổ thông, nhất là trường cấp I và cấp II đã được mở rộng ở khắp các huyện xã, đảm bảo cho hầu hết trẻ em trong tuổi đi học có thể đến trường.
Giáo dục phổ thông 10 năm đầu sau ngày giải phóng phát triển khá mạnh, nhưng không đồng đều ở các vùng, các cấp học và trong từng giai đoạn khác nhau. Giáo dục tiểu học (cấp 1): Trong 10 năm qua mạng lưới trường, lớp cấp I đã trải khắp các địa bàn. Mỗi xã đều có một trường phổ thông cơ sở hai cấp4 hoặc ít nhất cũng có cấp I. Trên phạm vi cả nước tốc độ phát triển mở rộng quy mô trường, lớp ở các tỉnh miền Nam khá nhanh.
Đây là một 4 Trường phổ thông cơ sở hai cấp có nghĩa là : trường phổ thong cơ sở liên cấp gồm cả cấp 1 và cấp 2 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong những điều kiện quan trọng để trẻ em đến tuổi đi học được thỏa mãn nhu cầu học tập. Trong năm học đầu tiên sau khi đất nước thống nhất 1975 – 1976 quy mô học sinh trong cả nước là 10.831 nghìn học sinh tham gia học tập ở cả ba cấp học. Đến năm 1985 – 1986 số học sinh trên phạm vi cả nước đã lên đến 12.034 nghìn học sinh [42, tr. Nhìn chung trên phạm vi cả nước số học sinh tham gia học các cấp tăng không nhanh, nhưng ổn định và đều đặn.
Việc huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường tham gia học tập đạt khoảng 98% ở khu vực miền xuôi và 80% ở khu vực miền núi. Tính đến năm 1985 nhiều tỉnh, địa phương đã phổ cập Tiểu học về cơ bản, nhất là ở các thành phố và khu vực đồng bằng như Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên và Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh… Cấp Tiểu học và THCS tính đến “năm 1983 có 8,1 triệu học sinh. Tại 20 tỉnh đồng bằng, trung du miền Bắc, miền trung và các tỉnh thành phố lớn có trên 70% số trẻ em trong độ tuổi đi học. Còn lại 20 tỉnh thành thuộc đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, mới có từ 50 – 60% số trẻ em đi học.
Ở vùng cao, biên giới phía Bắc tỷ lệ này còn thấp hơn (từ 20 -30%), nhiều xã chỉ có đến lớp 2 từ nhiều năm nay. Đáng chú ý nhất là tỷ lệ học sinh lưu ban còn cao.1: Tỷ lệ học sinh lưu ban bỏ học năm học 1982-1983. Cấp học Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Tiêu chí Lưu ban 9% 6,4% 4,4% Bỏ học 11% 17,6% 10,1% 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn: [45, tr. Có thể nói quy mô, mạng lưới trường phổ thông cơ sở cấp II khá dày, đủ để thu nhận số lượng học sinh đã hoàn thành chương trình cấp I.
Năm học 1984 – 1985 tổng số trường phổ thông cơ sở trên phạm vi cả nước là 12.265 trường, trong đó trường chỉ có cấp II là 179 trường [10, tr. Tính đến năm 1985 có 62 trường lá cờ đầu của cả nước cũng như của 40 tỉnh, thành và có hàng trăm trường tiên tiến xuất sắc của các tỉnh và hàng nghìn trường tiên tiến của cấp huyện. Đây là những trường có tiến bộ rõ rệt trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện. Đối với giáo dục tại hệ thống các trường trung học phổ thông (cấp III): là cấp học hoàn chỉnh chương trình phổ thông, trực tiếp chuẩn bị mọi mặt cho học sinh trở thành những người công dân, lao động… hay những hành trang để tiếp tục bước vào cánh cổng đại học và chuyên nghiệp.
Chính vì điều này mà quy mô hệ thống các trường phổ thông cấp III đã không ngừng được mở rộng. Năm học 1985 – 1986 cả nước ta có khoảng 666 trường phổ thông trung học rải khắp các huyện [42, tr.308], có huyện có tới 3-4 trường, với khoảng 17,4 nghìn lớp học, 854,3 nghìn học sinh [42, tr. Như vậy quy mô số lượng học sinh cấp III trong 10 năm đầu sau ngày giải phóng tăng một cách đều đặn nhất là ở các tỉnh phía Nam, vì ở đây trước năm 1975 số trường cấp III vẫn còn quá ít, mặt khác chúng lại tập trung ở những thành phố. Cơ sở vật chất – kỹ thuật Cơ sở vật chất – kỹ thuật là một trong những yếu tố tối thiếu để tiến hành phát triển công tác giáo dục phổ thông ở các trường.
Với những nhận thức đó, trong mười năm đầu sau ngày đất nước thống nhất, vận dụng một 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách sáng tạo, chủ động các chủ trương, phương châm Nhà nước cùng với các cơ quan chính quyền, nhân dân đã cùng nhau chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, ngành giáo dục đã có những bước tiến lớn trong việc xây dựng, sửa chữa, bảo quản, nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật của ngành, phấn đấu từng bước làm cho “trường ra trường, lớp ra lớp”. Kết quả là tính đến năm 1985 Ngành giáo dục đã có hàng vạn trường rải khắp địa bàn cả nước. Tuy nhiên cơ sở vật chất nói chung ; hệ thống trường, lớp nói riêng sau năm 1975 vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Hệ thống trường lớp học kiên cố chưa có nhiều chủ yếu vẫn được xây cất một cách tạm bợ bằng tre, nứa, lá là chủ yếu không đảm bảo về môi trường học tập giảng dạy cho học sinh và giáo viên.