Chương 1. Lí thuyết về địa danh và nghiên cứu địa danh đường phố ở Hà Nội Chương 2. Phương thức định danh và cấu tạo địa danh đường phố ở Hà Nội Chương 3. Quá trình hình thành và biến đổi của địa danh đường phố ở Hà Nội Chương 4.
Góp phần khẳng định đặc trưng văn hoá của địa danh đường phố ở Hà Nội 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH Ở HÀ NỘI 1. Một số vấn đề lí thuyết về nghiên cứu địa danh 1. Cơ sở lý luận và lược sử nghiên cứu địa danh Khi nghiên cứu vốn từ vựng của một ngôn ngữ, tuỳ theo mục đích có thể phân ra các hệ thống khác nhau như địa danh, nhân danh…Hệ thống này gọi là hệ thống tên riêng nằm trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ.
Trong ngôn ngữ học, ngành địa danh học (toponymic) và nhân danh học (Athronnymic) thuộc bộ môn khoa học có tên là Danh xưng học. Địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp “Topos” (vị trí) và “omoma”/ “onyma” (tên gọi). Superanskaja “Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” {97, tr. Ở Việt Nam, theo Hán Việt từ điển của Phan Văn Các thì “Địa danh là tên gọi các miền đất” {7, tr.
Từ điển Tiếng Việt cũng giải thích rất đơn giản “Tên đất, tên địa phương”{66, tr. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Âu nêu quan niệm “Địa danh học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lí các địa phương”{2, tr. Trong khi đó, tác giả Lê Trung Hoa có nhận xét “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” {41, tr. Nguyễn Kiên Trường lại xác định “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”.
Theo chúng tôi, mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau nhưng các đối tượng địa lý bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể độc lập. Đầu tiên, người ta thường sử dụng các tên chung để định danh, tạo tên riêng cho đối tượng. Tên riêng của các đối tượng này xuất hiện muộn hơn các tên chung chỉ loại. Do vậy, khi xác định khái niệm địa danh cần phải chú ý đến những vấn đề nội tại trong bản thân đối tượng.
Trước hết mỗi địa danh sinh ra đều có tính lý do, sau đó là sự thể hiện chức năng gọi tên và cá thể hoá. Từ kiến giải của các tác giả trong và ngoài nước nói trên, chúng tôi sử dụng định nghĩa của Superanskaja để nghiên cứu. Do đó, chúng tôi cũng chấp nhận cách phân loại địa danh thành 2 loại lớn là địa danh tự nhiên và địa danh không tự nhiên. Địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên, trong loại địa danh không tự nhiên, chúng tôi chia nhỏ hơn thành các tiểu nhóm: tiểu nhóm địa danh chỉ các đơn vị dân cư, hành chính; tiểu nhóm địa danh đường phố; tiểu nhóm địa danh chỉ các công trình xây dựng.
Địa danh có hai đặc trưng quan trọng nhất là chức năng xã hội và chức năng văn hoá của một cộng đồng cụ thể. Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học, nghiên cứu cấu tạo, ngữ nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của các địa danh. Việc nghiên cứu địa danh xuất hiện từ rất lâu. Nhiều sách lịch sử, địa lí của Trung Quốc không những ghi chép địa danh mà còn chỉ ra cách đọc, ngữ nghĩa, vị trí diễn biến và quy luật gọi tên.
Đầu thời Đông Hán (32 – 92 sau CN), Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa danh, một số địa danh được giải thích rõ ý nghĩa và nguồn gốc. Đến thời Bắc Ngụy (380 – 535), Lịch Đạo Nguyên viết Thuỷ kinh Chú sớ, trong đó có ghi chép 3 vạn địa danh {64, tr. Cuối thế kỉ XIX, ở phương Tây môn địa danh học chính thức ra đời.J Eghi ( Thuỵ Sĩ) viết Địa danh học và năm 1903, J. Nagl (người Áo) cũng cho ra đời tác phẩm Địa danh học.
Những năm 90 của thế kỉ XIX và 20 năm đầu của thế kỉ XX, các uỷ ban địa danh ở các nước được 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành lập: Uỷ ban địa danh nước Mĩ (BGN – 1890), Uỷ ban địa danh Thụy Điển (1920), Uỷ ban địa danh nước Anh (1919)…Thời kì đầu các nhà địa danh học quan tâm đến khảo cứu nguồn gốc địa danh. Bắt đầu từ thế kỉ XX, J.Gilllénon (1854 – 1926) đã viết “Atlat ngôn ngữ Pháp”, nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lí học.Dauzat (1926 – Pháp) đã viết “ Nguồn gốc và sự phát triển địa danh”, đề xuất phương pháp địa lí học để nghiên cứu các lớp niên đại của địa danh. Ngày nay, địa danh học phổ thông nghiên cứu tổng hợp các nguyên lí cơ bản về địa danh: sự xuất hiện, quy luật phát triển và quan hệ địa danh với lịch sử địa lí trong một khu vực, địa danh, địa chí học nghiên cứu từng địa danh về cách đọc, cách viết, cách dịch, tiêu chuẩn hoá có mục đích thực tiễn. Ngoài ra địa danh học còn vận dụng phương pháp phân tích bản đồ để nghiên cứu sự phân bố địa danh.
Đi đầu và đạt nhiều thành tựu trong nghiên cứu địa danh là các công trình của những học giả Xô Viết trước đây. Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như “Dẫn luận địa danh học” (M. 1965) và “Từ điển địa danh bỏ túi” (M. Nhikonov; “Môn địa lí trong các tên gọi” (M.Trong đó công trình “Địa danh học là gì?” của A.
Superanskaja là tác phẩm quan trọng nhất đã tổng kết thu gọn các tri thức cơ bản của địa danh học như khái niệm, nhận diện, phân tích, phân loại địa danh.11} Hàng loạt các tác phẩm nghiên cứu địa danh khác và nhiều cuốn từ điển địa danh cũng đã lần lượt xuất hiện ở Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Trung Quốc… Ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh cũng đã có từ lâu, nhưng các công trình nghiên cứu phần lớn đều tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ. Với bài nghiên cứu công bố cách đây hơn 40 năm “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á với qua một vài tên sông” {16}, Hoàng Thị 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Châu được coi như một trong những người cắm cột mốc đầu tiên nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học. Sau đó, những nghiên cứu của tác giả Lê Trung Hoa {38} là những chuyên khảo đầu tiên về địa danh của một địa phương là Thành phố Hồ Chí Minh. Các tác phẩm này đã dựa vào những cứ liệu ngôn ngữ học để nghiên cứu địa danh.
Tiếp sau đó là luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Kiên Trường, nghiên cứu địa danh thành phố Hải Phòng {93}, tác giả Từ Thu Mai nghiên cứu địa danh Quảng Trị {61}. Những công trình này đã có những đóng góp đáng trân trọng khi tiếp cận vấn đề địa danh học dưới cách nhìn ngôn ngữ học….Tiếp theo các tác giả Trần Thanh Tâm , Bùi Thiết {74}, {79} đã lần lượt nghiên cứu địa danh một số địa phương, địa danh lịch sử văn hoá…. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu địa danh hiện nay về cơ bản sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học để khai thác vấn đề. Đây là một hướng nghiên cứu khoa học và chặt chẽ.
Nó thường đi vào tìm hiểu địa danh bằng những thao tác của ngôn ngữ học như từ vựng học, ngữ pháp học, phương ngữ học, ngôn ngữ học lịch sử….Vì người nghiên cứu coi địa danh như một lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ (địa danh học) nên đã bỏ qua những yếu tố phi ngôn ngữ của địa danh, mà vấn đề này chỉ có thể được nhìn nhận và sáng tỏ bằng nhiều khoa học khác. Vấn đề địa danh đường phố trong nghiên cứu địa danh Phân loại địa danh là vấn đề phức tạp, do sự khác biệt về cách phân loại. Tuy nhiên, địa danh đường phố luôn là đối tượng được chú ý trong hệ thống phân loại địa danh. Ở Liên Xô, nhà địa danh học A.
Superanskaja chia địa danh thành 7 loại theo đối tượng mà địa danh biểu thị, gồm: 1) Phương danh; 2) Thuỷ danh; 3) Sơn danh; 4) phố danh (tên các đối tượng trong thành phố); 5) Viên danh; 6) Lộ danh (tên các đường phố); 7) Đạo danh. Trong khi 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Gorbanevskij cũng chia địa danh theo 4 loại: 1) Phương danh; 2) Sơn danh; 3) Thuỷ danh; 4) Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố). Ở phương Tây, nhà nghiên cứu Ch.
Rostaing cũng đề cập đến một chương có tên là Các địa danh và tên đường phố trong tác phẩm Les noms de lieux {41, tr. Trong các nghiên cứu này, đường phố nằm trong hệ thống phố danh, hoặc lộ danh. Ở Việt Nam, đáng chú ý nhất, là cách phân loại của Lê Trung Hoa. Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, ông chia địa danh thành ba loại: địa danh chỉ các địa hình tự nhiên, địa danh chỉ các công trình xây dựng, thiên về không gian hai chiều như tên cầu, cống, chợ, đường phố, công viên… và địa danh chỉ các đơn vị hành chính {41, tr.
Dựa theo cách phân loại này, tác giả Nguyễn Kiên Trường đã có những phân chia nhỏ hơn, với nhiều tiểu nhóm, trong đó có tiểu nhóm địa danh đường phố, bao gồm các đối tượng: cửa ô, đại lộ, đoạn phố, đường, đường bao, đường vòng, đường xuyên đảo, ngã ba, ngã năm, ngã sáu, ngã tư, ngõ, ngõ phố, phố, quảng trường {93, tr. Bản thân ngành địa danh học trong ngôn ngữ học cũng được chia thành nhiều tiểu nhóm như sơn danh học, thuỷ danh học, phương danh học và phố danh học. Trong đó, phố danh học là ngành học chuyên nghiên cứu về tên gọi các đường phố và các đối tượng trong thành phố. Có thể sử dụng sơ đồ của tác giả Lê Trung Hoa để khái quát mối quan hệ này: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.