Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề PPDH ở trường THPT theo quan điểm dạy học phân hóa Chương 2: Dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong môn hóa học ở trường THPT chương sự điện ly – hóa học 11 nâng cao. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA 1. Những xu hƣớng dạy học hoá học hiện nay [1][2][3][14][20][22][23][25] Trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo cơ chế thị trường, hội nhập khu vực và thế giới, chúng ta đang tiến tới xây dựng xã hội tri thức- xã hội phát triển, trong xã hội đó con người chính là yếu tố trung tâm, là chủ thể kiến tạo xã hội. Vì vậy việc đổi mới trong giáo dục là yếu tố vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đến sự phát triển của xã hội.
Trong quá trình đổi mới giáo dục thì sự đổi mới về phương pháp dạy và phương pháp học là yếu tố căn bản. Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước, chúng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học chú trọng đến việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học. Đây là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học. Nguyên tắc này đã được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là một trong những phương hướng cải cách giáo dục phổ thông Việt Nam.
Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyên tắc trên đã được chúng ta nghiên cứu, áp dụng dạy học trong các môn học và được coi là phương hướng dạy học tích cực. Ta hãy xét những quan điểm, những tiếp cận mới hiện đang được thử nghiệm và áp dụng ở nước ta dùng làm cơ sở cho việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học. Dạy học hướng vào người học [2][14][25] Dạy học hướng vào người học là quan điểm được đánh giá là tích cực vì việc dạy học chú trọng đến người học để tìm ra phương pháp dạy học có hiệu quả. Có thể nhấn mạnh những điểm quan trọng của việc dạy học hướng vào người học như sau: - Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho HS thích nghi với đời sống xã hội.
Tôn trọng nhu cầu hứng thú, khả năng và lợi ích của học sinh. - Về nội dung: Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, năng lực tự giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho học sinh hòa nhập với xã hội. 7 z - Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự khám phá và giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo của học sinh thông qua học tập. giáo viên là người tổ chức, điều khiển, động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng học sinh trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học.
- Về hình thức tổ chức: không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp học linh hoạt, phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học. Giáo án bài dạy cấu trúc linh hoạt và có sự phân hóa, tạo điều kiện cho sự phát triển năng khiếu của từng cá nhân. - Về kiểm tra đánh giá: Giáo viên đánh giá khách quan, HS tham gia vào quá trình nhận xét kết quả học tập của mình( tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau. Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: tái hiện, vận dụng, suy luận sáng tạo.
- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, HS được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, sự tự tin trong cuộc sống. Như vậy việc dạy học hướng vào người học đặt ví trí người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa tiềm năng của người học. Do đó vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng tạo của HS được phát huy. Người GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn động viên các hoạt động độc lập của HS, đánh thức các tiềm năng của mỗi HS, giúp họ chuẩn bị các hành trang bước vào cuộc sống.
Lý thuyết dạy học hướng vào người học (hay vẫn gọi là dạy học lấy HS là trung tâm) là một tư tưởng tiến bộ, đặc biệt ở thế kỉ XX. Tư tưởng này đã được thể hiện qua các định hướng chỉ đạo hoạt động ở nước ta với các phong trào như: “Tất cả vì học sinh thân yêu”; “Thầy chủ đạo, trò chủ động”; “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Tuy nhiên lý thuyết coi HS là trung tâm chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản nên đã đi sâu vào việc tuyệt đối hóa hứng thú, nhu cầu, hành vi biệt lập của cá nhân HS nên khi áp dụng cần đề phòng khuynh hướng tuyệt đối hóa nhu cầu nguyện vọng của HS. Dạy học theo hướng hoạt động hoá người học[20][22][23] Bản chất của việc đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học.
Định hướng hoạt động hóa người học chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề: 8 z - Dạy học thông qua hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo của người học. - Hình thành công nghệ kiểm tra đánh giá. - Sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin. Theo định hướng đó các nhà nghiên cứu đã đề xuất: - Học sinh phải được hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động, đặc biệt là hoạt động tư duy.
- Các PPDH phải thể hiện được PP nhận thức luận khoa học bộ môn và tận dụng khai thác đặc thù của bộ môn để tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong phú trong giờ học. - Chú trọng dạy HS phương pháp tự học, phương pháp tự nghiên cứu trong quá trình học tập. Học tập và sáng tạo Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hóa người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của người học sinh. Để HS học tập tích cực tự giác cần làm cho HS biết biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân mình.
Để có tư duy sáng tạo thì phải tập luyện hoạt động sáng tạo thông qua học tập. Muốn vậy thì ngay trong bài học đầu tiên của môn học phải đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu, người khám phá. Ngược lại, nhờ cách học nghiên cứu khám phá và cách học sáng tạo đó mà HS nắm vững kiến thức, biết sử dụng kiến thức một cách linh hoạt rồi tiếp tục sáng tạo ra cái mới. Cách tốt nhất để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của HS là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, hình thành quan điểm đạo đức.
Vì vậy cần phải coi xây dựng phong cách học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới PPDH. Vai trò mới của người giáo viên: - Thiết kế: Lập kế hoạch, chuẩn bị kế hoạch dạy học. - Ủy thác tạo động cơ: Biến ý đồ dạy học của GV thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của học sinh. - Điều khiển, tổ chức hoạt động của HS theo cá nhân hay nhóm (điều khiển cả về mặt tâm lý bao gồm sự động viên, trợ giúp, đánh giá).
9 z - Thể chế hóa: Biến những kiến thức riêng của từng HS thành tri thức khoa học của XH mà HS cần tiếp thu, tạo điều kiện cho HS vận dụng tri thức thu được để giải quyết một số vấn đề liên quan trong đời sống và sản xuất. Các biện pháp hoạt động hóa người học: - Khai thác nét đặc thù môn hóa học, tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng phong phú giúp HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng trong giờ học như: - Tăng cường sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan. - Trong giờ học sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HS: Làm thí nghiệm, dự đoán lý thuyết, mô hình hóa, giải thích, thảo luận nhóm…giúp HS được hoạt động tích cực, chủ động. - Tăng thời gian dành cho HS hoạt động bằng cách giảm thuyết trình của GV xuống dưới 40-50% thời gian của tiết học, tăng thời gian đàm thoại giữa thầy và trò, tập cho HS được thảo luận, tranh luận.
- Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn, uốn nắn PP học tập của HS trên cơ sở luyện tập cho HS trình bầy về PP tiếp cận vấn đề và vận dụng tổng hợp sáng tạo kiến thức đã học nhằm giải quyết các vấn đề trong học tập hay trong thực tiễn. - Sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin. Quan điểm dạy học phân hóa[15][17][18][19][26] 1. Thuyết đa trí tuệ - cơ sở nền tảng của dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa.
Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau: “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ.Sau đây là bẩy loại trí thông minh mà Gardner đã đề nghị tại thời điểm đó: 10 z Bảng 1. Các loại trí thông minh theo lý thuyết của Gardner Các loại trí Khả năng và nhận thức thông minh Ưu thế của ngôn ngữ. Trí tuệ này bao gồm khả năng thao tác Ngôn ngữ học ngôn ngữ hiệu quả để bày tỏ chính mình một cách hùng biện hay có chất thơ. Khả năng phát hiện những họa tiết, lập luận kiểu suy diễn và Logic/Toán học suy nghĩ logic.
Trí tuệ này thường được kết hợp nhiều nhất trong tư duy khoa học và tư duy toán học. Khả năng nhận biết và biên soạn nhạc theo cao độ, âm và nhịp Âm nhạc điệu. Khả năng sử dụng những khả năng trí tuệ của mình kết hợp Cơ thể/ Xúc với những chuyển động cơ thể của chính mình. Trí tuệ này giác thách thức sự tin tưởng phổ biến rằng hoạt động trí óc và hoạt động cơ thể không liên quan tới nhau.
Khả năng thao tác và tạo ra những hình ảnh trong trí óc để giải quyết vấn đề.