Chương I, Thiên này [39]. Nghĩa là việc kết hôn ở nước ngoài của công dân Pháp với nhau hoặc công dân Pháp với người nước ngoài phải tuân theo pháp luật nước đó về mặt thủ tục, bên cạnh đó công dân Pháp trong quan hệ kết hôn đó cũng phải tuân theo quy định về thủ tục kết hôn của pháp luật Pháp thì hôn nhân mới được coi là có giá trị tại Pháp. Trường hợp chỉ tuân theo pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn hoặc chỉ tuân theo pháp luật của Pháp về điều kiện kết hôn mà vi phạm pháp luật của nước kia thì hôn nhân đó cũng không được công nhận tại Pháp. * Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế.
Đồng thời không phân biệt đối xử với người nước ngoài trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Nguyên tắc này được qui định tại khoản 2, 3 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo nguyên tắc này, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và tập quán quốc tế thì sẽ được bảo hộ. Địa vị pháp lý của công dân Việt Nam cư trú, sinh sống và làm ăn ở nước ngoài do pháp luật nước sở tại qui định, đồng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thời vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Do vậy, công dân Việt Nam ở nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ kết hôn sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ theo quan điểm của Nhà nước thể hiện tại Điều 75 Hiến pháp năm 1992, Điều 7 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 là: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Đồng thời, Nhà nước có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam [46]. Khái niệm "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài" cũng được giải thích tại Điều 3 của Luật Quốc tịch như sau: "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người cố Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài" [46]. Quy định này là thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bao gồm công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích để họ giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương.
Việc bảo hộ này được thực hiện thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài được qui định tại khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau: "Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài… có trách nhiệm thực hiện bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài" [43]. Bên cạnh việc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước ngoài thì pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam. Người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật có qui định khác. Theo nguyên tắc này, người nước ngoài sẽ được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản như công dân Việt Nam.
Trừ một số trường hợp, quyền lựa chọn nơi cư trú sẽ bị hạn chế, người nước ngoài không được cư trú ở một số khu vực như khu vực biên giới,… Việc qui định này xuất phát từ tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam để bảo vệ nền kinh tế, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Quy định này là phù hợp với quy định của pháp luật các nước trên thế giới. * Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về hôn nhân và gia đình. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được qui định trong các văn bản quy phạm pháp luật trong nước.
Điều này là hết sức cần thiết trong trường hợp pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết chưa có qui định điều chỉnh nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời phát triển quan hệ giao lưu dân sự quốc tế. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau: "trong trường hợp luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng" [43]. Theo đó, pháp luật nước ngoài được áp dụng trong các trường hợp sau: - Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định; - Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn. Trong tất cả các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu trên, pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nguyên tắc được quy 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam. Việc không áp dụng trong trường hợp này không phải pháp luật nước ngoài mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam mà vì hậu quả của nó sẽ không tốt, không lành mạnh, ảnh hưởng đến nền tảng đạo đức, thuần phong, mỹ tục của dân tộc ta. Đây là nguyên tắc không chỉ Việt Nam quy định mà được ghi nhận trong pháp luật một số nước, tại khoản 1 Điều 4 Luật Tư pháp quốc tế Ba Lan quy định: "Khi luật nước ngoài được áp dụng theo quy định của đạo luật này lại quy định rằng luật Ba Lan được áp dụng với quan hệ đó thì sẽ áp dụng luật Ba Lan". Điều 2 Sắc luật về Tư pháp quốc tế Hungari năm 1979 quy định: "Sắc luật này không được áp dụng đối với các vấn đề đã được điều chỉnh bởi một hiệp ước quốc tế".
Như vậy, pháp luật các nước đều có chung quy định về việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật trong nước. * Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 theo đó, nếu chương XI không có quy định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tế, pháp luật Việt Nam hiện chưa có các quy phạm xung đột để điều chỉnh tất cả các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phát sinh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự cũng như lợi ích của Nhà nước [4, tr.
Ngoài ra, Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định áp dụng Bộ luật dân sự điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, có nghĩa Bộ luật dân sự sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nếu như Luật hôn nhân và gia đình không quy định. Như vậy, theo nguyên tắc tương tự, nếu trong chương XI không có quy định về quan hệ hôn nhân và gia 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đình nào đó thì sẽ áp dụng Phần thứ bảy của BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài để giải quyết xung đột pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài [56, tr. Các nguyên tắc chuyên biệt điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại Việt Nam * Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật của nước mà đương sự có quốc tịch hay còn gọi nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (lex patriae). Đây là nguyên tắc được áp dụng phổ biến trong các quan hệ dân sự quốc tế nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Theo nguyên tắc này, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát sinh giữa công dân nước nào thì áp dụng pháp luật của nước đó để điều chỉnh. Nguyên tắc luật quốc tịch xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 01 năm 1851 do Pasquale Stanislac Mancini- nhà bác học, luật học đưa ra trong tác phẩm "Tính dân tộc là cơ sở của luật quốc gia". Học thuyết của Mancini đã được đưa vào BLDS Italia năm 1865, BLDS Đức năm 1896, các đạo luật về Tư pháp quốc tế của Nhật Bản năm 1898, của Trung Quốc năm 1918, BLDS Braxin 1916… Các công ước La Haye về Tư pháp quốc tế cũng thừa nhận nguyên tắc này. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung, Luật Quốc tịch năm 1998, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.v… đã sử dụng nguyên tắc này.
Nguyên tắc luật quốc tịch đã trở thành nguyên tắc quan trọng được ghi nhận trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài [37, tr. Các Hiệp định tương trợ tư pháp, Điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn. Nghiên cứu pháp luật một số nước (Pháp, Đức,.) tác giả cũng thấy pháp luật các nước quy định nguyên tắc này.