Chương I, Luật Bình đẳng giới khái niệm:“ Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” [24, Tr. Đây là khái niệm chung nhất được sử dụng trong luận văn này. - Phân biệt đối xử về giới Khái niệm chung nhất được sử dụng trong luận văn này là theo tài liệu sổ tay tuyên truyền về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình của Trung ương Hội LHPN Việt Nam: “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [27, Tr. Báo điện tử Từ khi ra đời đến nay, loại hình báo chí này có rất nhiều cách gọi khác nhau như: Báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo chí internet.
Luận văn này dùng tên gọi Báo điện tử để chỉ chung cho loại hình báo chí này. “ Báo điện tử là một loại hình thông tin đại chúng dựa trên việc khai thác thế mạnh của internet nhằm đem đến cho công chúng những thông tin mới nhất về mọi mặt của đời sống một cách nhanh nhất và toàn diện nhất” [15, Tr 234] So với báo in, phát thanh và truyền hình, báo điện tử là một kênh truyền thông vô cùng hiệu quả. Bản thân nó mang trong mình sức mạnh của các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống, nhưng do kết hợp với 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạng internet mà nó có nhiều đặc điểm ưu việt riêng. Nhờ những thế mạnh của mình mà Báo điện tử đã nhanh chóng làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin để trở thành một loại hình truyền thông được nhiều người lựa chọn.
Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về vấn đề bình đẳng giới Trong suốt những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn rất quan tâm tới vấn đề bình đẳng giới. Để xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, thúc đẩy được bình đẳng nam nữ, thực thi quyền phụ nữ trên phạm vi rộng lớn thì Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào tháng 7/1980 và được Nhà nước phê chuẩn Công ước vào tháng 11/1981. Đảng, nhà nước ta đã ra rất nhiều các văn bản chỉ đạo và đã chỉ đạo tổ chức nhiều hoạt động để thực hiện trách nhiệm của một quốc gia là thành viên CEDAW, đặc biệt là việc thiết lập sự bảo vệ bằng pháp luật các quyền của phụ nữ trên cơ sở không phân biệt đối xử và bình đẳng nam nữ. Trước hết, Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới được thể hiện ngay trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 02/9/1945, Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 05 bản Hiến pháp: năm 1945, 1959, 1980, 1992 - sửa đổi bổ sung năm 2001 và gần đây nhất là bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Các bản Hiến pháp trong đó điều quy định chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Ngoài ra, còn quán triệt và cụ thể hóa quan điểm “Nam, nữ bình quyền” bằng những quy định cụ thể. Sau các Hiến pháp năm 1945, 1959, trong Hiến pháp năm 1980 từ Điều 53 đến Điều 81 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có một số điều tạo ra những điểm nhấn quan trọng, khẳng định quyền bình đẳng giới của nam và nữ.
Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, từ Điều 49 đến Điều 82 quy định rõ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có một số khẳng định các quyền bình đẳng nam, nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến nay Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định sâu sắc hơn quyền bình đẳng của nam và nữ trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1992. Từ Điều 14 đến Điều 49, Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã quy định các quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng, trong đó có quyền của phụ nữ được quy định tại Điều 26. Có thể khẳng định rằng, qua các bản Hiến pháp, Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện rõ quan điểm về bình đẳng giới.
Có những quyền được pháp luật xây dựng bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong công việc, trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và trong đời sống gia. Năm 2000, tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc, Việt Nam là một trong số gần 200 quốc gia cam kết thực hiện 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, trong đó mục tiêu thứ 3 có nội dung “Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao quyền năng của phụ nữ” [23, Tr.3] Để khẳng định Việt Nam sẽ quyết tâm thực hiện tốt bình đẳng giới, Đảng và nhà nước ta tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam nữ; xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ; thực hiện các cam kết, điều ước quốc tế về quyền con người và bình đẳng giới, nhằm phát huy mọi tiềm năng nguồn nhân lực nam, nữ. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Luật Bình đẳng giới. Luật bình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Ngày 12 tháng 12 năm 2006, Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 18/2006/L-CTN. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Luật này gồm 6 chương, 44 điều.4] Luật Bình đẳng giới ra đời là một trong những biện pháp khắc phục tình trạng phân biệt đối xử về giới và những khoảng cách giới trong thực tế. Luật bình đẳng giới đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nam và nữ.
Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới. Để nâng cao nhận thức của nhân dân về Luật bình đẳng giới và để triển khai thi hành Luật, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/05/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. Trong Chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung làm tốt công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới và rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/06/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/05/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm Bình đẳng giới, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.
Bên cạnh đó, Luật phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2008 đã thật sự là đạo luật quan trọng cho việc thúc đẩy công tác bình đẳng giới ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia nằm trong số ít quốc 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gia đã ban hành đồng thời được cả hai đạo luật này. Ngoài ra, Bộ Luật Lao động cũng là một trong những đạo luật đã có chương riêng quy định đối với lao động nữ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ. Tiếp tục thúc đẩy và hướng tới mục tiêu chung bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ đến năm 2010.
Chiến lược được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 19/2002/QĐ - TTg ngày 21/01/2002. Chiến lược có mục tiêu: Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Chiến lược này đòi hỏi các ngành, các cấp, các tổ chức phải nâng cao chất lượng, đẩy mạnh hoạt động, đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, vận động cán bộ, công chức, viên chức, hội viên đoàn thể và nhân dân cùng thực hiện vì mục tiêu bình đẳng giới.
Ngày 24/12/2010, tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020. Chiến lược đã thể hiện được quan điểm và mục tiêu của Chính phủ về bình đẳng giới. Quan điểm của chiến lược: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước. Công tác bình đẳng giới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.
Mục tiêu của Chiến lược: Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Ngày 22/7/2011, Chính phủ đã ra Quyết định số 1241/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015. Mục tiêu của Chương trình là tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay đổi hành vi, thực hiện bình đẳng giới; từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020.