phần mở đầu, biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề toàn cầu nhận được sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều chủ thể: từ chính quyền địa phương tới Liên Hợp Quốc (United Nations – UN), từ chuyên ngành khí tượng học tới nhóm ngành kinh tế, từ giới đại chúng phổ thông tới các nhà khoa học. Tính chất toàn cầu của biến đổi khí hậu thể hiện ở sự ảnh hưởng tới mọi khía cạnh, mọi đối tượng, mọi quốc gia. Mặc dù phạm vi và mức độ ảnh hưởng của vấn đề biến đổi khí hậu là không nhỏ tới đời sống, con người hiện tại vẫn chưa có phương thức nào kiểm soát khí hậu nói chung và các biến đổi khí hậu nói riêng. Cũng chính vì thế, nhiều khía cạnh của vấn đề toàn cầu này đã và đang được nghiên cứu để kịp thời đề xuất những phương án ứng phó phù hợp.
Việc tìm hiểu cụ thể về khái niệm, thực trạng và nguyên nhân của vấn đề biến đổi khí hậu sẽ góp phần làm rõ thêm các khía cạnh của vấn đề toàn cầu này trong các nghiên cứu nói chung, và trong phạm vi thảo luận của luận văn này nói riêng. Khái niệm và thuật ngữ Hiện tượng “biến đổi khí hậu” bắt đầu được quan tâm, nghiên cứu từ sớm và ngày càng trở thành một trong những đề tài nghiên cứu giữ vị trí trung tâm. Ngành khí tượng học là một ngành khoa học có lịch sử lâu đời cùng với sự phát triển của xã hội từ thời cổ đại. Chính vì vậy những ‘thay đổi’, ‘biến động’, ‘sai biệt’ trong tiến trình khí hậu đã được các nhà khoa học trong ngành phát hiện, ghi nhận, và tiến hành tìm hiểu, phân tích.
Số lượng nghiên cứu tăng lên và các nghiên cứu trở nên tập trung hơn một cách đáng kể trong những thập niên sau khi Chiến tranh Thế giới Thứ hai kết thúc. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn gặp khó khăn để thống nhất nhất với nhau về mặt khái niệm và các tiêu chuẩn của hiện tượng tự nhiên này. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều quan điểm không tương đồng được các nhà khoa học đưa ra dẫn tới sự phân nhánh trong nghiên cứu. Những khác biệt trong các định nghĩa học thuật liên quan đến hiện tượng biến đổi khí hậu do sự khác biệt trong cơ sở khoa học mà các nhà nghiên cứu áp dụng.
Cụ thể hơn, đó là sự khác biệt về nguyên nhân (được cho là) gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu; mức độ của những thay đổi cũng như ảnh hưởng của hiện tượng này; và khung thời gian áp dụng để đo đạc những chỉ số vừa nêu1. Như vậy, chỉ trong phạm vi của riêng ngành khí tượng học đã xuất hiện việc không thống nhất quan điểm trong việc định nghĩa hiện tượng này, chưa kể tới các lĩnh vực liên quan khác. Cân nhắc về sự đa dạng của các định nghĩa, đặc trưng của chuyên ngành Quan hệ quốc tế, và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn định nghĩa của Công ước Khung về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (United Nations Framework Con- vention on Climate Change – UNFCCC) để làm cơ sở cho các phân tích tiếp theo trong luận văn. Theo đó, biến đổi khí hậu là “sự biến đổi của khí hậu do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ hoạt động của con người; những hoạt động này thay đổi cấu tạo của khí quyển trái đất và tác động thêm vào quá trình biến đổi khí hậu tự nhiên được ghi lại qua chu kỳ thời gian.
Bằng định nghĩa này, UNFCCC thay vì nghiên cứu bao quát tất cả các nguồn gốc của biến đổi khí hậu, tập trung vào hiện tượng biến đổi khí hậu mà tác nhân là các hoạt động do con người làm chủ thế. Bằng việc xác định này, UNFCCC cũng gián tiếp vạch ra phương án ứng phó với vấn đề toàn cầu này, đó là xu hướng hạn chế các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người có khả năng gây ra biến đổi khí hậu. Cũng cần lưu ý thêm, rằng định nghĩa về biến đổi khí hậu nêu trên do UN- FCCC nêu ra là có chủ đích nhằm nhấn mạnh tính nghiêm trọng và cấp thiết của hiện tượng ấm lên toàn cầu. Nhiều tổ chức nghiên cứu, điển hình như Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia của Hoa Kỳ (National Aeronautics and Space Administration – 1 (Landsberg, 1976, p.
Article 1) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NASA), lựa chọn sử dụng tách biệt hai khái niệm “biến đổi khí hậu” (bao gồm nhiều biểu hiện khác biến thiên của khí hậu) và “ấm lên toàn cầu”3. Đây chính là điểm đáng lưu ý khi phân phân tích kế hoạch hành động của UNFCCC trong đó có Nghị định thư Kyoto. Thực trạng và hậu quả của vấn đề biến đổi khí hậu Diễn biến của tình trạng biến đổi khí hậu, hay nhất là sự ấm lên toàn cầu, đang ngày càng trở nên phức tạp và đáng lo ngại. Trong khoảng một thế kỷ vừa qua, theo ước tính, trái đất nóng lên khoảng 0.
Tuy nhiên, việc tăng nhiệt độ của trái đất diễn ra liên tục với mức độ mạnh nhất trong khoảng ba thập kỷ gần đây nhất (lấy năm 1850 làm mốc nghiên cứu của hiện tượng này).4 Sự tăng nhiệt độ bề mặt trái đất được ghi nhận từ khoảng thời gian năm 1880. Tuy nhiên, trong suốt quá trình này, dấu mốc những năm 1970 đánh dấu sự gia tăng nhanh và mạnh nhất. (Xem thêm Phụ lục 1) Quá trình tăng nhiệt diễn ra ở tất cả các môi trường, bề mặt đất liền, bề mặt đại dương, không khí gần bề mặt, không khí trên mặt đại dương. Như vậy có thể thấy hiện tượng tăng nhiệt độ này là đồng nhất.5 Sự tăng nhiệt độ của trái đất cũng có thể coi là là nguyên nhân trực tiếp cho những diễn biến phức tạp khác của khí hậu.
Các nhà nghiên cứu và các tổ chức khoa học, xã hội đồng ý với nhau về danh sách những chỉ số phổ biến dùng để đo mức độ ảnh hưởng của hiện tượng ấm lên toàn cầu. Những chỉ số này hiện tại đều ở mức đáng quan ngại: (1) Mực nước biển dâng cao. Theo tính toán mực nước của các đại dương đã dâng cao khoảng 17 cm trong vòng một thế kỷ vừa qua. Tuy nhiên, đáng báo động hơn khi con số này của riêng thập kỷ trước đã gần gấp đôi so với thế kỷ XX6.
(3) Băng tan ở hai cực và các vùng băng vĩnh cửu cũng như diện tích tuyết bao phủ giảm. (4) Các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, sương khói, bão, v. xảy 3 (Conway, 2008) 4 (Stocker et al.), 2013) 5 (NASAb, 2015) 6 Tài liệu đã dẫn. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra ngày một thường xuyên hơn và mức độ nặng nề hơn trên mọi khu vực trên thế giới.
(5) Mưa a-xít và a-xít hóa đại dương. Theo ghi nhận, mức độ a-xít trên bề mặt đại đương đã tăng 30%7. Việc này được cho là có ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái biển. Ngoài ra, các cơ quan nghiên cứu khác đưa ra thêm các chỉ số khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của họ.
Những chỉ số về các yếu tố biến đổi trong tự nhiên vừa nêu là hậu quả trực tiếp của vấn đề biến đổi khí hậu. Hậu quả gián tiếp thể hiện ở các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế xã hội. Vấn đề sức khỏe con người với sự phát triển bất thường của các dịch bệnh truyền nhiễm và các bệnh không truyền nhiễm do ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu đã và đang được nghiên cứu, dự báo. Nguồn nước, nguồn lương thực đều bị đe dọa và ở trong tình trạng đáng báo động khi sự nóng lên toàn cầu vẫn liên tục diễn ra mạnh trên diện rộng ở khắp nơi trên thế giới.
Xã hội và các nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng từ vấn đề này. Ví dụ, theo báo cáo của Ủy ban châu Âu (European Commission – EC), trong vòng ba thập kỷ, từ năm 1980, lũ lụt ở châu Âu đã khiến hơn 2.500 người thiệt mạng, ảnh hưởng tới 5,5 triệu người khác và làm thiệt hại 90 tỉ Euro cho nền kinh tế châu Âu8. Di cư vì lý do khí hậu vừa là hệ quả của vấn đề, vừa cùng với các hệ quả kinh tế khác đóng góp vào nguyên nhân gây ra chiến tranh và xung đột ở một số khu vực trên thế giới. Như vậy, chỉ với những hệ quả kinh tế xã hội chính nêu trên, chúng ta cũng có thể thấy được thực trạng đáng báo động của vấn đề.9 Ở Việt Nam, hậu quả về điều kiện tự nhiên và trong đời sống kinh tế xã hội đều được ghi nhận, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây.
Mực nước biển dâng cao 20-30cm so với những năm 1960. Biên độ dao động nóng lạnh giữa các mùa diễn ra thường xuyên hơn và với cường độ mạnh hơn. Nhiều diễn biến thiên tai trong những năm gần đây như bão lớn, tuyết và băng giá đột biến ở vùng núi phía Bắc, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng trên địa bàn cả nước, đã gây ra những hậu quả nặng nề về người và 7 (Allison et al., 2009) 8 (EC, 2013) 9 (EC, 2014) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những nỗ lực xóa đói giảm nghèo của chính phủ ở các vùng sâu vùng xa có nguy cơ thất bại, và điều này gây tổn hại kinh tế nghiêm trọng cho ngân sách quốc gia và các mục tiêu phát triển bền vững khác.10 Chiến lược quốc gia về Biến đổi Khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường đệ trình và Thủ tướng chính phủ phê duyệt năm 2011 cũng đã chỉ rõ kịch bản diễn biến của tình trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong những thập kỷ tiếp theo và những nguy cơ tiếp sau.
Trong khi đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới chịu thiệt hại nặng nề nhất khi mực nước biển tiếp tục dâng cao, đồng bằng sông Hồng cũng sẽ bị ngập úng cục bộ. Ước tính tổn thất kinh tế của Việt Nam trong kịch bản xấu nhất này là khoảng 10% GDP và khoảng 10 tới 12% dân số sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.11 Như vậy, không chỉ cộng đồng khoa học mà chính phủ và các cấp quản lý cũng đã nhận thức rõ nguy cơ và những thiệt hại đáng kể mà Việt Nam phải gánh chịu từ diễn biến của vấn đề biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu.