Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀ NAM VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN HÀ NAM TRONG CÁI NHÌN ĐỊA – VĂN HOÁ 1. Khái niệm ca dao Đã có nhiều quan niệm về ca dao, dân ca (Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Thuần Phong, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Ngọc Khánh,…). Ở đây, chúng tôi xin được sử dụng cách hiểu của tác giả Nguyễn Xuân Kính.
Cách hiểu này thể hiện trong sách Thi pháp ca dao và bộ Kho tàng ca dao người Việt. Các từ phong dao, ca dao có mặt trong các sách Hán Nôm từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, trong các sách chữ quốc ngữ xuất bản ở đầu thế kỉ XX. Nếu định nghĩa theo từ nguyên thì ca là bài hát có chương khúc hoặc có âm nhạc kèm theo, còn dao là bài hát ngắn không có chương khúc. Như vậy, xét về bản chất thì ca dao và dân ca hầu như không có ranh giới rõ rệt.
Song, sau này trên thực tế, thuật ngữ ca dao có nội dung hẹp hơn thuật ngữ dân ca. Phạm vi phản ánh của hai từ ca dao và phong dao có chỗ giống nhau. Người xưa gọi “Ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại. Vì vậy dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường chữ cho một từ ca dao”.
Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX, từ phong dao hầu như không còn được sử dụng, chỉ còn từ ca dao được dùng để chỉ một loại thơ dân gian. Ở Việt Nam, so với từ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn. Phải đến năm 1956, với cuốn sánh Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, từ dân ca mới trở nên quen thuộc. Các nhà nghiên cứu văn học dân gian hiện nay cho rằng dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài) phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát.
Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định. Như vậy, không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó (hát Quan họ, hát Ví, hát Xoan…) cứ tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì đều là ca dao. Ca dao được hình thành từ dân ca. Khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến lời ca.
Giữa ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó. Thuật ngữ kép ca dao – dân ca đã được sử dụng để phản ánh mối quan hệ đặc biệt có những điểm tương đồng trong - 14 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com diễn xướng (có thể hát, ngâm theo các làn điệu). Khi được ghi chép, dân ca và ca dao đều được ngắt ra thành câu (hai dòng thơ) thành bài ca dao – dân ca (với nhiều dòng). Hiện tượng từng được gọi là câu, là bài, là đơn vị, là tác phẩm ấy là những lời dân ca, ca dao.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, thuật ngữ lời ca dao được hiểu theo nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và mặt hình thức văn học. Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình thức của lời ca dao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ… Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao người Việt, thuật ngữ ca dao được hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau: - Thứ nhất: Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca. - Thứ hai: Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).
- Thứ ba: Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, đưa hơi… thì sẽ đều là ca dao. Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian. Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng theo cách hiểu thứ nhất, nghĩa là ca dao, dân ca có thể được sử dụng theo nghĩa tương đương. Vì vậy có lúc chúng tôi dùng ca dao, có lúc lại sử dụng thuật ngữ kép ca dao – dân ca.
Các từ: tác phẩm, bài, lời, đơn vị (ca dao) cũng được chúng tôi dùng với ý nghĩa tương đương. Có thể chia ca dao ra ba nhóm lớn: - Ca dao sinh hoạt – trữ tình: là những bài hát, câu hát dân gian gắn với các hoạt động sinh hoạt của nhân dân, diễn tả đời sống tư tưởng và tình cảm của nhân dân lao động trong những mối quan hệ xã hội đa dạng, đặc biệt là nói về tình yêu lứa đôi. - Ca dao nghi lễ: là những bài hát, câu hát dân gian được diễn xướng một cách tổng hợp (bao gồm âm nhạc, vũ đạo, trò diễn…) gắn với nghi lễ (ở đây chúng tôi chỉ nhắc tới những bài ca gắn với nghi lễ ở các đền, đình, nghè, miếu… tế thờ thần thánh, các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá… chứ chưa có điều kiện tiếp cận các bài hát lễ ở chùa, phủ… mang tính chất tôn giáo rõ nét). - 15 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ca dao lao động: là những bài hát, câu hát dân gian ra đời từ lao động, gắn với chức năng thực hành lao động, được hát lên trong lúc lao động để phục vụ trực tiếp cho lao động.
Vùng văn hoá và vùng văn hoá dân gian Từ những năm 90 của thế kỉ XX, ở nước ta việc phân vùng và nghiên cứu văn hoá vùng mới được quan tâm với nghĩa đây là những vấn đề khoa học đòi hỏi phải trả lời bằng các nghiên cứu khoa học. Cho đến nay, chúng ta đã có kết quả phân vùng của Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên, Hoàng Vinh. Cách phân vùng của mỗi tác giả đều có những căn cứ nhất định. Tuy có một số nét khác nhau song nhìn chung, các tác giả đã tương đối thống nhất về sự phân chia các vùng văn hoá.
Để xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi xin trình bày cách hiểu một số khái niệm có tính chất thao tác được sử dụng trong luận văn.Vùng văn hoá Văn hoá vận động trong cả hai chiều thời gian và không gian. Nó nảy sinh, được bảo tồn, phát triển hay bị diệt vong cùng với thời gian hoặc trong một không gian nhất định nào đó.TS Ngô Đức Thịnh: “Nhân tố không gian được biểu hiện thành phạm trù thống nhất và đa dạng của văn hoá, còn nhân tố thời gian được biểu hiện thành phạm trù truyền thống và biến đổi của văn hoá” [43, tr. Khi nghiên cứu về không gian văn hoá không thể không đề cập đến vấn đề vùng văn hoá, tức là tìm hiểu không gian nảy sinh, tồn tại của nền văn hoá hay từng yếu tố văn hoá. Vùng văn hoá đã và đang tồn tại như một thực thể sống động vốn có của nó.
Vì thế, nghiên cứu vùng văn hoá, chúng tôi cố gắng tiếp cận một số quan điểm rất quan trọng của lý thuyết vùng văn hoá như: ranh giới vùng, vùng trung tâm, việc tập trung các yếu tố có sự tương đồng, thống nhất, tính trội của một vùng… Hiện nay, đa số các nhà khoa học khi nghiên cứu vùng văn hoá thường chỉ ra bốn cấp độ: khu vực, vùng, tiểu vùng, trường hợp (hay hiện tượng). Điều này hoàn toàn đúng. Tuy nhiên trong dân gian xưa, ông cha ta đã từng nói đến vùng văn hoá với tên gọi quen thuộc là xứ (Xứ Lạng, xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài…). Khi phân ra các xứ như vậy, người xưa hẳn đã phân biệt sự khác nhau của các vùng với nhiều khía cạnh, trong đó văn hoá đóng một vai trò cốt yếu.
Sau này, dưới góc nhìn hiện đại, các nhà khoa học bắt đầu bàn đến vùng văn hoá và sự phân biệt các vùng đó với nhau. Song, - 16 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về mặt cơ bản, các nhà nghiên cứu vẫn dựa trên cách chia của người xưa. Nói như vậy để thấy rằng một vùng muốn được coi là vùng văn hoá phải trải qua một giai đoạn khá dài cùng sự phát triển của con người với những nếp sống, phong tục, tập quán… của họ. Nhiều nhà nghiên cứu sau này như GS Hoàng Tiến Tựu, GS Đặng Nghiêm Vạn, PGS Vũ Ngọc Khánh, PGS Chu Xuân Diên, GS.TS Kiều Thu Hoạch, PGS.TS Trần Lê Bảo… đã dày công nghiên cứu vấn đề vùng văn hoá, song đáng chú ý phải kể tới công trình Các vùng văn hoá Việt Nam do GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận đồng chủ biên (Nxb Văn học, H, 1995), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam của GS.TS Ngô Đức Thịnh (Nxb Khoa học xã hội, H, 1993, được tái bản nhiều lần), Cơ sở văn hoá Việt Nam do GS Trần Quốc Vượng chủ biên (Nxb Giáo dục, H, 1997, được tái bản nhiều lần)… Xem xét từ rất nhiều góc độ và cũng thống nhất với quan điểm của GS.TS Ngô Đức Thịnh, các tác giả của công trình Hỏi và đáp về văn hoá Việt Nam xác định: “Vùng văn hoá để chỉ một không gian có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống…, ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa các cộng đồng cùng địa vực đã diễn ra những mối giao lưu, ảnh hưởng văn hoá qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hoá khác”.
GS Trần Quốc Vượng và các tác giả của giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam cũng khẳng định “Trong tâm thức dân gian Việt Nam, sự phân biệt về cái chung, nét riêng giữa các vùng, miền luôn có một vị thế quan trọng. Cái chung, nét riêng này thường được gắn với một địa danh, một giới hạn lãnh thổ nào đó” [51, tr. Thực tế cho thấy điều kiện tự nhiên, sinh thái, lịch sử, xã hội của mỗi vùng, miền không giống nhau.