Phần mở đầu, 3 chƣơng nội dung và phần kết luận. Phần nội dung chính gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1 đƣa ra khái quát chung về Hội nhập kinh tế quốc tế, ý nghĩa vai trò của nó trong quá trình Hội nhập quốc tế là chủ trƣơng chính sách phù hợp của nhà nƣớc Việt Nam nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Nội dung Chƣơng 1 cũng đƣa ra khái quát chung về doanh nghiệp Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2007. Chƣơng 2 phân tích vào những hạn chế chủ quan và khách quan của doanh nghiệp trong quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế.
Hạn chế chủ quan là những nhân tố yếu kém từ chính bên trong doanh nghiệp: khả năng lãnh đạo, định hƣớng thị trƣờng, nguồn vốn và nhân lực… Hạn chế khách quan là những khó khăn về môi trƣờng kinh doanh trong nƣớc của doanh nghiệp, những cơ chế chính sách đặc thù dành 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho doanh nghiệp vẫn còn nhiều ràng buộc và chƣa thực sự tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp. Chƣơng 3 đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế và yếu kém của doanh nghiêp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh (giá trị nội tại của doanh nghiệp) đến việc cải thiện môi trƣờng kinh doanh trong nƣớc cũng nhƣ điều chỉnh các chính sách vĩ mô để doanh nghiệp tiếp cận thị trƣờng quốc tế một cách dễ dàng hơn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. Khái quát về Hội nhập kinh tế quốc tế Định nghĩa: Hội nhập kinh tế quốc tế là trình độ cao của quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế.
Hội nhập có nghĩa là gia nhập, tham gia vào một tổ chức chung, một trào lƣu chung của quốc tế, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận trong một tổng thể. Hội nhập kinh tế thƣờng có nhiều mức độ từ nông đến sâu, từ một vài lĩnh vực đến nhiều lĩnh vực, từ một vài nƣớc đến nhiều nƣớc.34] - Hội nhập theo mức độ liên kết: + Khu vực thƣơng mại tự do (Free Trade Area) + Liên hiệp thuế quan (Customs Union) + Thị trƣờng chung (Common Market) + Hội nhập kinh tế (Economic Intergration) + Hội nhập kinh tế toàn bộ (Total Economic Intergration) - Hội nhập theo địa lý: Hội nhập toàn cầu, hội nhập theo khu vực - Hội nhập theo lĩnh vực: thƣơng mại, dịch vụ, tài chính… Khi hội nhập kinh tế, mỗi quốc gia vẫn tồn tại với tƣ cách là một quốc gia độc lập tự chủ, tự nguyện lựa chọn các lĩnh vực và tổ chức thích hợp để hội nhập. Tuy nhiên, khi đã gia nhập thì phải tuân theo đầy đủ các nguyên tắc chung, phải thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của một thành viên, phải điều chỉnh chính sách của mình sao cho phù hợp với luật chơi chung.34] Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế: Hội nhập kinh tế là xu hƣớng toàn cầu nên tác động của nó lan toả đến mọi khu vực, mọi quốc gia. Ngay cả những nƣớc chƣa tham gia vào quá trình 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó cũng bị ảnh hƣởng, tác động.
Thực tế, trong thế giới ngày nay tuyệt đại bộ phận các nƣớc đều mở cửa hội nhập nên tác động của hội nhập rất rộng lớn. Kinh tế là nền tảng của một quốc gia nên hội nhập kinh tế sẽ tác động toàn diện đến các mặt chính trị, văn hoá xã hội của đất nƣớc. Bất kể nƣớc nào đã hội nhập đều phải điều chỉnh luật lệ, chính sách để hội nhập thành công và hiệu quả. Tuy nhiên hội nhập kinh tế là một quá trình, nên tuỳ theo mức độ mà hội nhập trong từng giai đoạn mà tác động của nó có ảnh hƣởng đến các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.
Về phƣơng diện kinh tế thì hội nhập kinh tế có những tác động chủ yếu sau: (i) Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các nƣớc phải mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá về thƣơng mại và đầu tƣ. (ii) Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các nƣớc phải tiến hành cải cách, đổi mới kinh tế trong nƣớc, nếu không sẽ nhanh chóng tụt hậu so với các nƣớc khác. (iii) Hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt hơn, không chỉ trẻ thị trƣờng xuất khẩu mà ngay cả tại thị trƣờng nội địa. (iv) Hội nhập kinh tế quốc tế buộc các nƣớc phải cơ cấu lại nền kinh tế, tham gia tích cực vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để tập trung vào những ngành sản xuất hiệu quả và có thế mạnh.
(v) Hội nhập kinh tế quốc tế còn tác động mạnh đến dịch vụ, bản quyền, sở hữu trí tuệ, môi trƣờng, sức khoẻ con ngƣời… những thứ còn mới mẻ so với Việt Nam. Quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam Doanh nghiệp trong Luận văn này là một đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tƣ cách pháp nhân, đƣợc thành lâp theo Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Ðầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài hoặc theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam với Chính phủ nƣớc ngoài. Cụ thể gồm các loại hình doanh nghiệp sau đây: (i) Các Doanh nghiệp Nhà nƣớc do Trung ƣơng quản lý và do Ðịa phƣơng quản lý (kể cả các doanh nghiệp kinh tế Ðảng, đoàn thể do Nhà nƣớc cấp vốn); (ii) Các doanh nghiệp tập thể thành lập theo Luật Hợp tác xã; (iii) Các doanh nghiệp tƣ nhân. (iv) Các công ty hợp danh; (v) Các công ty trách nhiệm hữu hạn; (vi) Các công ty cổ phần (kể cả doanh nghiệp Nhà nƣớc cổ phần hoá, công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nƣớc); (vii) Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài, doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập theo Luật đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài.
5-10] Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bƣớc phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trƣởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội nhƣ: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo.Sự phát triển của doanh nghiệp nói chung là tiền đề vững chắc cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đang từng bƣớc hƣớng tới. Số lƣợng Doanh nghiệp tăng nhanh Bảng 1.1: Số lượng doanh nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ Năm Số lƣợng DN Tổng cộng DN DN ngoài DN có vốn nhà nƣớc nhà nƣớc nƣớc ngoài 2000 5.288 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.000 (dự báo) Nguồn:[34] Nhìn bảng trên chúng ta thấy số doanh nghiệp ngày một tăng, nếu tính đến cuối năm 2000 cả nƣớc có 42.288 doanh nghiệp đã và đang hoạt động sản xuất kinh doanh, thì cũng vào thời điểm này năm 2005 là 113.352 doanh nghiệp, bình quân mỗi năm trong 5 năm tăng trên 14 nghìn doanh nghiệp thực tế có hoạt động. Nhƣ vậy để có thể có 500.000 doanh nghiệp vào cuối năm 2010 đòi hỏi phải có sự đầu tƣ nhiều hơn nữa của mọi thành phần kinh tế để thành lập các doanh nghiệp mới, trên cơ sở 4 chữ T (Tri thức, Tiền, Tâm, Thông tin) của các nhà đầu tƣ thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng với việc xây dựng và thực hiện các Luật liên quan và những cải cách của Nhà nƣớc nhằm tạo thuận lợi cho việc thành lập cũng nhƣ hoạt động của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nhìn bảng trên chúng ta cũng thấy, trong khi số doanh nghiệp nhà nƣớc ngày một giảm thì số doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc và doanh nghiệp có vốn nƣớc ngoài lại ngày một tăng. Việc tăng số doanh nghiệp nói chung, và có tăng có giảm số doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác nhau hoàn toàn phù hợp với đƣờng lối phát triển của Đảng và Nhà nƣớc: với các doanh nghiệp nhà nƣớc theo chủ trƣơng sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp, cho nên không ít đơn vị bị giải thể, doanh nghiệp đƣợc ghép lại và doanh nghiệp cổ phần hoá (năm 2000 có 305 công ty cổ phần có vốn Nhà nƣớc, năm 2005 tăng lên 1096 doanh nghiệp); các doanh nghiệp khác tăng nhanh bởi chủ trƣơng phát triển kinh tế nhiều thành phần đã đƣợc Luật hoá từ văn bản Luật quan trọng nhất đó là Hiến pháp, bởi chủ trƣơng đẩy nhanh hội nhập quốc tế,… chính vì những vấn đề cơ bản trên cùng với Việt Nam đã ra biển khơi WTO, và kết quả thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ngày một nhiều hơn cùng những cải cách hành chính và 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chống tham nhũng sẽ hứa hẹn số doanh nghiệp thuộc hai thành phần này sẽ tăng nhanh hơn trong năm 2006-2010. [34] Quy mô lao động và nguồn vốn và cơ cấu của doanh nghiệp cũng có bƣớc tiến đáng kể Số lƣợng doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau, nhƣng lao động và nguồn vốn của các thành phần kinh tế không cùng theo một tỷ lệ. Doanh nghiệp nhà nƣớc có số lao động và nguồn vốn tăng nhanh nhất, sau đó là doanh nghiệp có vốn nƣớc ngoài, trong khi đó doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc lại giảm tƣơng đối, cụ thể mời xem bảng sau để biết tỉ lệ từng loại hình doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp nói chung trên cả nƣớc trong năm 2005: Bảng 1.