Luận văn thạc sĩ: Phát triển CNHT ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương đến năm 2020 trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Tác giả

Phạm Văn Dũng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2015

115
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

0.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

0.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1. Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ

1.2. Phân loại theo ngành/công nghệ sản xuất linh kiện

1.3. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ

1.4. Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

1.5. Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo

1.5.1. Nội dung ngành công nghiệp cơ khí

1.5.2. Nội dung Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo

1.5.3. Mối quan hệ giữa ngành CKCT và CNHT ngành CKCT

1.5.4. Một số đặc điểm của ngành CNHT ngành CKCT

1.5.5. Vai trò của CNHT ngành CKCT đến sự phát triển của ngành CKCT

1.6. Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo

1.6.1. Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển CNHT ngành CKCT

1.6.2. Khái niệm về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo

1.6.3. Các tiêu chí phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo

1.6.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của CNHT ngành CKCT

1.6.5. Bài học kinh nghiệm về phát triển công nghiệp hỗ trợ

1.6.5.1. Kinh nghiệm Malaysia
1.6.5.2. Kinh nghiệm Trung Quốc
1.6.5.3. Bài học cho công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020 TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1. Khái quát về công nghiệp cơ khí tỉnh Bình Dương

2.2. Vai trò của ngành CKCT tỉnh Bình Dương trong phát triển kinh tế xã hội

2.3. Hiện trạng ngành cơ khí chế tạo của tỉnh Bình Dương

2.4. Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo Bình Dương

2.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến CNHT ngành CKCT của tỉnh Bình Dương

2.4.2. Thực trạng phát triển CNHT ngành CKCT tại tỉnh Bình Dương

2.4.3. Đánh giá chung về công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo của Bình Dương

2.5. Những điều kiện cần thiết để phát triển CNHT ngành CKCT tại Bình Dương

2.6. Thành tựu đạt được trong quá trình phát triển

2.6.1. Kết quả đạt được

2.6.2. Nguyên nhân của những kết quả đã đạt được

2.7. Những hạn chế trong quá trình phát triển

2.7.1. Những yếu kém, tồn tại

2.7.2. Nguyên nhân của những yếu kém tồn tại

2.8. Những vấn đề đặt ra trong phát triển CNHT ngành CKCT tại Bình Dương

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020 TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến CNHT ngành cơ khí chế tạo của Bình Dương

3.1.1. Xu thế phát triển CNHT ngành CKCT thế giới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với CNHT ngành CKCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương

3.3. Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo của tỉnh Bình Dương đến năm 2020

3.3.1. Quan điểm phát triển

3.3.2. Định hướng phát triển

3.3.3. Các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020

3.3.3.1. Nhóm giải pháp chính sách
3.3.3.2. Nhóm giải pháp có tính tương hợp với thị trường
3.3.3.3. Các điều kiện và yêu cầu hỗ trợ nhằm thực thi giải pháp

3.3.4. Đánh giá điều kiện thực thi các giải pháp

3.3.5. Một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thực thi các nhóm giải pháp

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngành cơ khí chế tạo là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tỉnh Bình Dương, với vị trí địa lý thuận lợi và nền tảng công nghiệp phát triển, đã có những bước tiến đáng kể trong việc xây dựng và phát triển CNHT. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Việc nghiên cứu và phân tích thực trạng CNHT ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương sẽ giúp xác định rõ hơn những vấn đề cần giải quyết và đưa ra các giải pháp phù hợp.

1.1. Khái niệm và vai trò của công nghiệp hỗ trợ trong ngành cơ khí chế tạo

Công nghiệp hỗ trợ là ngành cung cấp linh kiện, phụ kiện cho các ngành sản xuất chính. Trong ngành cơ khí chế tạo, CNHT đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu và thiết bị cần thiết cho sản xuất. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

1.2. Tình hình phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Bình Dương

Tỉnh Bình Dương đã có những chính sách khuyến khích phát triển CNHT, tuy nhiên, thực trạng hiện tại cho thấy CNHT ngành cơ khí chế tạo vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trong nước. Nhiều doanh nghiệp vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh và tăng chi phí sản xuất.

II. Những thách thức trong phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng phát triển CNHT ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ lạc hậu và chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh là những rào cản lớn. Để vượt qua những thách thức này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức giáo dục.

2.1. Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển của CNHT. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong ngành cơ khí chế tạo gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân lực có trình độ chuyên môn cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp.

2.2. Công nghệ lạc hậu và thiếu đầu tư

Nhiều doanh nghiệp trong ngành cơ khí chế tạo vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, dẫn đến năng suất thấp và chất lượng sản phẩm không đảm bảo. Việc thiếu đầu tư vào nghiên cứu và phát triển cũng là một trong những nguyên nhân khiến CNHT không phát triển mạnh mẽ.

III. Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương

Để phát triển CNHT ngành cơ khí chế tạo, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn cần cải thiện công nghệ và chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Việc xây dựng các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp là rất cần thiết.

3.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Cần xây dựng các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của thị trường. Các cơ sở giáo dục cần hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp để đảm bảo sinh viên ra trường có thể đáp ứng được yêu cầu công việc.

3.2. Đầu tư vào công nghệ và nghiên cứu phát triển

Doanh nghiệp cần được khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới và nghiên cứu phát triển sản phẩm. Nhà nước cũng cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ

Nghiên cứu về CNHT ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương đã chỉ ra rằng việc phát triển CNHT không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động. Các doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

4.1. Kết quả đạt được từ phát triển công nghiệp hỗ trợ

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng thành công các giải pháp phát triển CNHT, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Bình Dương.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các doanh nghiệp thành công

Các doanh nghiệp thành công trong việc phát triển CNHT thường có chiến lược rõ ràng và đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ và nguồn nhân lực. Họ cũng thường xuyên cập nhật xu hướng thị trường và điều chỉnh chiến lược sản xuất cho phù hợp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo

Phát triển CNHT ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Với những giải pháp đồng bộ và sự hỗ trợ từ nhà nước, CNHT có thể phát triển mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh. Tương lai của CNHT ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương hứa hẹn sẽ có nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ tất cả các bên liên quan.

5.1. Triển vọng phát triển công nghiệp hỗ trợ trong tương lai

Với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu ngày càng cao từ thị trường, CNHT ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương có nhiều cơ hội để phát triển. Các doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng và đầu tư vào công nghệ mới để nâng cao năng lực cạnh tranh.

5.2. Những thách thức cần vượt qua trong tương lai

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng CNHT ngành cơ khí chế tạo cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như cạnh tranh từ các nước trong khu vực và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm. Do đó, cần có những chiến lược phát triển bền vững để vượt qua những thách thức này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh bình dương đến năm 2020 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về Công nghiệp hỗ trợ 1.1 Khái niệm Công nghiệp hỗ trợ 1.1 Khái niệm “Công nghiệp hỗ trợ” Cụm từ tiếng Anh “supporting industry” được bắt gặp khá nhiều trong các tài liệu tiếng Việt viết về CNHT và thường được dịch ra theo hai cách là “công nghiệp hỗ trợ” hoặc là “công nghiệp phụ trợ”. Theo (Ohno, Kenichi 2007) thì đây là một cụm từ Anh – Nhật được các DN Nhật Bản sử dụng từ lâu trước khi nó trở thành một thuật ngữ chính thức. Thuật ngữ này trở nên thông dụng ở Nhật Bản khoảng vào giữa những năm 1980 khi được chính phủ Nhật Bản sử dụng trong các văn bản và tài liệu của mình và do làm sóng đầu tư sang các quốc gia châu Á khác của Nhật đã biến khái niệm này bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Mặc dù vậy thuật ngữ này đến nay vẫn rất mơ hồ và không có một định nghĩa thống nhất.1 Khái niệm chung ngành công nghiệp hỗ trợ Nguồn: Ichikawa, 2004 Xét trên nghĩa tổng quát nhất, CNHT là thuật ngữ chỉ một hệ thống sản xuất, cung cấp những yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng (Hoàng Văn Châu, 2010).

Trong sản xuất hiện đại ngày nay trong một thế giới phẳng, quá trình chuyên môn hóa diễn ra sâu sắc, bất kể cộng đồng, nền kinh tế hay biên giới lãnh thổ quốc gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thì các linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm đều được sản xuất ra bên ngoài nhà máy lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng. Tất cả hệ thống này tạo nên ngành CNHT. Theo nghĩa hẹp, CNHT gắn với chức năng cung cấp linh kiện, phụ tùng và công cụ cho một số ngành công nghiệp nhất định (Ohno, Kenichi 2007). Ví dụ CNHT của công nghiệp xe máy cung cấp các nguyên liệu đầu vào và qui trình sản xuất chúng, và các dịch vụ cho các nhà lắp ráp xe máy.

Tuy nhiên CNHT cũng được hiểu rộng hơn thế và không có ranh giới cụ thể. Một xu hướng dễ nhận thấy là một nhà cung cấp có thể sản xuất và cung ứng linh kiện cho các khách hàng ở nhiều ngành sản xuất khác nhau. Ví dụ như một nhà máy sản xuất thép có thể cung ứng sản phẩm của mình cho ngành đóng tàu, ô tô, cơ khí, điện - điện tử. Nói cách khác có một sự giao thoa giữa các ngành sản xuất khác nhau trong việc sử dụng hệ thống cung cấp hỗ trợ.

Điều này có nghĩa là để hoạch định được chính sách phù hợp thì phạm vi của CNHT cần phải được các nhà hoạch định chính sách qui định một cách cụ thể và mang tính chiến lược nhằm đảm bảo sự tương thích giữa định nghĩa với mục tiêu mà chính sách ấy theo đuổi (Ohno, Kenichi 2007).2 Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ theo MITI Nguồn: Hiệp hội DN hải ngoại Nhật Bản, JOEA(1994:19) trích bởi Ohno, Kenichi 2007 Việc sử dụng khái niệm rộng hẹp như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào tính chủ quan và mục đích của người sử dụng chúng, thông thường ở tầm vĩ mô, nghĩa rộng của khái niệm gắn với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia tổng thể. Ở tầm hoạch định ngành hoặc vi mô, nghĩa hẹp của khái niệm có giá trị xác định nội hàm chuỗi cung ứng cụ thể, gắn liền với phát triển ngành – sản phẩm để có chiến lược phát triển phù hợp. Hai cấp độ khái niệm này hoàn toàn không loại trừ nhau mà giao thoa nội hàm và bổ sung cho nhau (Trần Đình Thiên, 2012). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản (METI) định nghĩa về CNHT trong Chương trình phát triển CNHT châu Á (1993) là “các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn,… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)” (Lê Thế Giới, 2010, trang 20) Hình 1.3 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản.Mori, 2005 trích bởi Hoàng Văn Châu, 2010 Việt Nam tiếp nhận thuật ngữ “Công nghiệp hỗ trợ” tương đối muộn.

Thời kỳ tập trung bao cấp và lấy phát triển công nghiệp nặng làm nền tảng công nghiệp, các DN quốc doanh sản xuất xe đạp, xe máy, máy nông nghiệp, ô tô cũng đòi hỏi lượng đầu vào trên qui mô rộng, nhưng Việt Nam thời kỳ đó chưa có một khái niệm nào về CNHT, quy trình sản xuất linh phụ kiện được sản xuất ra trong cùng một DN theo cách thức tổ chức công nghiệp tích hợp theo chiều dọc. Sản phẩm được sản xuất ra từ các linh phụ kiện được sản xuất trong cùng một DN từ A tới Z. Sau khi hội nhập lại với nền kinh tế khu vực và thế giới, khi các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu vào Việt Nam từ giữa những năm 1990, họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm những nhà cung cấp sản phẩm đầu vào đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và dịch vụ. Nhằm giúp Việt Nam cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, Nhật Bản đã hỗ trợ thông qua dự án Ishikawa (1995) và Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản (2003).

Sáng kiến này bao gồm việc xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển CNHT, lập cơ sở dữ liệu về CNHT và thành lập khu công nghiệp cho CNHT. Những chương trình này mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi Việt Nam có thể thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến từ các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 công ty FDI, thì các công ty này sẽ được hưởng môi trường đầu tư và kinh doanh tốt hơn. (Nguyễn Thị Dung Huệ, 2013) Tài liệu có tính pháp lý chính thức mới nhất ở Việt Nam về CNHT được đưa ra trong Qui hoạch tổng thể phát triển các ngành CNHT đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 của bộ công thương Việt Nam được thủ tướng ký ban hành tháng 12 năm 2011 (Thủ tướng Chính phủ, 2011a) trong đó CNHT được định nghĩa như sau: Hình 1.4 Cơ cấu – Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ Nguồn: Ohno, Kenichi 2007 i) Công nghiệp hỗ trợ: Là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, linh kiện phụ tùng, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. ii) Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.

iii) Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là dự án đầu tư tại Việt Nam (kể cả đầu tư mới và đầu tư bổ sung) để sản xuất sản phẩm CNHT. Công nghiệp hỗ trợ là cần thiết cho cả các ngành công nghiệp chế tạo như sản xuất ô tô, xe máy, điện tử, cơ khí cũng như các ngành công nghiệp chế biến như may mặc, da giày, nhưng CNHT của mỗi ngành này lại có những đặc điểm khác nhau, yêu cầu khác nhau, thậm chí mục đích khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của ngành. Do đó, một định nghĩa mang tính chất bao quát chung chung cần được làm rõ ràng hơn, cụ thể hơn khi đi vào xây dựng chính sách cho từng ngành cụ thể nhằm đạt được tính khả thi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 chính sách cao hơn. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay mà Việt Nam không thể tách rời, đặc biệt với nguồn ngân sách hạn hẹp, nền móng công nghiệp còn đang trong quá trình hoàn thiện thì khái niệm hẹp về CNHT cần được nhấn mạnh nhiều hơn để có được sự thực dụng trong chính sách và hành động nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển các sản phẩm CNHT cụ thể, theo qui trình một cách hiệu quả.

Nhận định trên căn cứ vào hiện trạng phát triển CNHT của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là phù hợp và để đạt được tính phù hợp, tính khả thi khi soạn thảo chính sách về CNHT cũng như hành động để đạt được các mục tiêu chính sách ấy. Với phạm vi nghiên cứu là Công nghiệp hỗ trợ chỉ cho ngành cơ khí chế tạo và giới hạn trên địa bàn của tỉnh Bình Dương, tác giả nhận thấy rằng sẽ hợp lý hơn nếu tiếp cận về công nghiệp hỗ trợ ở khái niệm hẹp ở tầm hoạch định ngành hoặc vi mô. Nghĩa hẹp của khái niệm có giá trị xác định nội hàm chuỗi cung ứng cụ thể, gắn liền với phát triển ngành cơ khí chế tạo và có các sản phẩm cụ thể sẽ là thích hợp hơn để có chiến lược phát triển phù hợp. Do vậy, tác giả đề xuất lấy định nghĩa của Ohmo định nghĩa về CNHT làm cơ sở nền tảng xuyên suốt luận văn này, tức Công nghiệp hỗ trợ “là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và các công cụ để sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo và chế biến” (Ohno, Kenichi 2007, trang 39) Mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chính được thể hiện như sau: Hình 1.5 Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các khái niệm liên quan  Công nghiệp liên quan và hỗ trợ Thuật ngữ “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” (related and industries) được M.

Porter sử dụng như là một yếu tố quyết định của lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (M.Porter, 1990), ông giới thiệu mô hình kim cương gồm bốn yếu tố chính liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên lợi thế cạnh tranh và có thể áp dụng cho các quốc gia, vùng và các ngành công nghiệp.6 Mô hình viên kim cương của Porter về lợi thế cạnh tranh của các quốc gia Nguồn: M. Porter, 1990 Trong bốn yếu tố này, “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được định nghĩa là “sự tồn tại của ngành công nghiệp cung cấp và ngành công nghiệp liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế”. Ông chia yếu tố này thành hai phần, gồm CNHT và công nghiệp liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ