Tổng quan nghiên cứu

Năng suất lao động nông nghiệp đóng vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh quốc gia và thu nhập thực tế của người nông dân. Tại Việt Nam, năng suất lao động nông nghiệp trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI vẫn ở mức khiêm tốn so với khu vực, chỉ đạt khoảng 75% so với Trung Quốc, 60% so với Ấn Độ, 32,8% so với Indonesia, 25,5% so với Thái Lan và 3,61% so với Malaysia. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách phải tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới cho nông nghiệp tại những vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo như Đồng bằng Sông Cửu Long.

Tỉnh Kiên Giang sở hữu diện tích đất nông nghiệp rộng lớn với 441.321 ha vào năm 2007, chiếm 69,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và đóng góp 11,1% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Mật độ dân số của tỉnh ở mức 251 người/km2, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 418 người/km2 của toàn vùng, tạo lợi thế lớn về quy mô đất canh tác bình quân đạt 0,87 ha trên một lao động nông nghiệp. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế do nền kinh tế hộ manh mún, chất lượng nông sản chưa đồng đều và tỷ lệ lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng đáng kể.

Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế Phát triển của tác giả Ngô Văn Đây, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Đinh Phi Hổ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tập trung giải quyết hai câu hỏi cốt lõi: nhận diện, lượng hóa các yếu tố tác động đến năng suất lao động nông nghiệp và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chỉ số này trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 1996 - 2007 và dữ liệu sơ cấp điều tra thực tế cuối năm 2008 tại 4 huyện trọng điểm. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương hoạch định chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động, gia tăng giá trị sản xuất và nâng cao đời sống cho hơn 176 nghìn hộ nông dân trên toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế phát triển và kinh tế nông nghiệp hiện đại. Lý thuyết cổ điển của David Ricardo nhấn mạnh giới hạn của tư liệu sản xuất đất đai là nguyên nhân dẫn đến quy luật năng suất biên giảm dần, đòi hỏi phải thâm canh tăng năng suất đất và chuyển dịch lao động dư thừa. Mô hình hai khu vực của Arthur Lewis phân tích quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp có năng suất biên tiệm cận bằng không sang khu vực công nghiệp nhằm gia tăng tổng sản lượng quốc gia.

Bên cạnh đó, lý thuyết ba giai đoạn phát triển nông nghiệp của Harry Oshima và Michael Todaro làm sáng tỏ lộ trình chuyển dịch từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, tiến tới nền nông nghiệp hiện đại thâm dụng vốn và công nghệ cao. Dựa trên mô hình hàm sản xuất nông nghiệp của nhà kinh tế học S.S. Park và phương trình phân rã năng suất của Randy Barker, năng suất lao động nông nghiệp được xác định bởi hai trụ cột chính: năng suất đất (giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích) và quy mô đất bình quân (diện tích đất canh tác trên mỗi lao động).

Bốn khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Năng suất lao động nông nghiệp (giá trị tổng sản lượng tính trên một lao động nông nghiệp trong một năm), Năng suất đất (giá trị sản lượng trên một hecta đất canh tác), Quy mô đất canh tác (hệ số diện tích đất trên lao động) và Kiến thức nông nghiệp (tổng hòa kiến thức kỹ thuật, hiểu biết thị trường và kỹ năng quản lý nông hộ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập bài bản. Dữ liệu thứ cấp phản ánh diễn biến kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang và 13 tỉnh thành Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 1996 - 2007 từ Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang và Tổng cục Thống kê.

Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2008 thông qua bảng câu hỏi cấu trúc. Cỡ mẫu khảo sát ban đầu gồm 200 hộ nông dân, sau quá trình làm sạch thu được 144 quan sát hợp lệ, đạt tỷ lệ sử dụng 70%. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao nhất, bao phủ đủ 3 vùng sinh thái đặc trưng: vùng ven biển (3 xã thuộc huyện An Biên), vùng đồng bằng (3 xã huyện Châu Thành và 3 xã huyện Hòn Đất) và vùng gò đồi (2 xã huyện Kiên Lương); đồng thời phản ánh đủ 3 cấp độ quy mô đất đai (quy mô lớn tại Hòn Đất, quy mô trung bình tại An Biên, Kiên Lương và quy mô nhỏ tại Châu Thành).

Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng thống kê mô tả để đánh giá thực trạng sản xuất và áp dụng mô hình hồi quy đa biến dạng log-log (Cobb-Douglas) thông qua phần mềm xử lý thống kê SPSS. Phương pháp chọn biến từng bước (Stepwise) với tiêu chuẩn loại biến có mức ý nghĩa xác suất lớn hơn 0,1 được lựa chọn nhằm khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến, tối ưu hóa hệ số xác định R2 và lượng hóa chính xác độ co giãn của từng biến độc lập (diện tích đất, giá trị máy móc, đa dạng hóa sản xuất, kiến thức nông nghiệp, vốn vay tín dụng, giới tính và dân tộc của chủ hộ) tác động đến năng suất lao động nông nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 6%/năm trong giai đoạn 1996 - 2007, đưa quy mô toàn ngành tăng gần gấp 2 lần. Đến năm 2008, tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản đạt 11.677,9 tỷ đồng theo giá cố định, tăng 8,95% so với năm 2007. Trong đó, ngành trồng trọt tăng trưởng 5,7%/năm, chăn nuôi tăng 9,5%/năm và dịch vụ nông nghiệp tăng 8,2%/năm.

Thứ hai, năng suất đất của tỉnh có bước tiến đáng kể nhưng vẫn ở mức thấp so với khu vực. Năm 2007, năng suất đất đạt 9,09 triệu đồng/ha, tăng 35,5% so với mức 6,71 triệu đồng/ha của năm 1996 với tốc độ tăng bình quân 2,8%/năm. Tuy nhiên, số liệu so sánh năm 2005 cho thấy năng suất đất Kiên Giang đạt 8,44 triệu đồng/ha, chỉ bằng khoảng 70% mức bình quân của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (11,63 triệu đồng/ha) và chưa bằng 50% so với các tỉnh dẫn đầu như Tiền Giang (17,21 triệu đồng/ha) hay Vĩnh Long (17,19 triệu đồng/ha).

Thứ ba, tiến trình cơ giới hóa nông nghiệp tạo bước đột phá mạnh mẽ giúp gia tăng quy mô đất canh tác bình quân. Nhờ chính sách hỗ trợ 100% lãi suất vay mua máy cơ khí với tổng doanh số cho vay 40 tỷ đồng giai đoạn 2003 - 2007, toàn tỉnh đã trang bị trên 500 máy gặt đập liên hợp và hơn 1.025 lò sấy lúa. Đến cuối năm 2008, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất, bơm nước và tuốt hạt đạt 97%, khâu thu hoạch bằng máy đạt trên 20%, thúc đẩy một lượng lớn lao động dôi dư chuyển sang khu vực phi nông nghiệp và nâng quy mô đất bình quân lên 0,87 ha/lao động.

Thứ tư, kết quả ước lượng mô hình hồi quy kinh tế lượng khẳng định mối quan hệ đồng biến có ý nghĩa thống kê giữa năng suất lao động nông nghiệp và 7 yếu tố đầu vào: quy mô diện tích đất sản xuất, giá trị đầu tư máy móc thiết bị, mô hình đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, điểm số kiến thức nông nghiệp của chủ hộ, quy mô vốn vay tín dụng, cùng với hai biến đặc điểm chủ hộ là giới tính và thành phần dân tộc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến năng suất đất tại Kiên Giang còn thấp xuất phát từ cơ cấu cây trồng quá thiên về độc canh lúa nước. Đất trồng lúa chiếm tới 81% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh, cao hơn hẳn mức bình quân 74% của Đồng bằng Sông Cửu Long và vượt xa Tiền Giang (54%) hay Bến Tre (28%). Trong khi đó, hệ số gieo trồng cây lúa của tỉnh chỉ đạt 1,7 lần, thấp hơn mức 2,0 lần của toàn vùng và mức 2,7 - 2,8 lần tại Tiền Giang, Vĩnh Long. Diện tích đất dành cho cây ăn trái và cây công nghiệp lâu năm chỉ chiếm 17% với hệ số canh tác đạt 0,3. Ngoài ra, năng suất lúa bình quân của tỉnh năm 2005 đạt 4,94 tấn/ha, vẫn thấp hơn mức bình quân 5,03 tấn/ha của khu vực và mức 5,9 tấn/ha của tỉnh lân cận An Giang.

Về phương diện tài chính, dư nợ tín dụng nông nghiệp đạt 2.509,714 tỷ đồng phân bổ cho 104.901 hộ vay (bình quân 23,925 triệu đồng/hộ), chỉ chiếm 21,8% tổng dư nợ tín dụng toàn tỉnh (11.493,903 tỷ đồng). Cơ cấu vốn vay trung và dài hạn phục vụ nông nghiệp chỉ chiếm 15,4%, chưa bằng một nửa tỷ trọng 32,5% của các ngành kinh tế khác, tạo rào cản lớn cho việc tái đầu tư máy móc công nghệ cao.

Trong các báo cáo phân tích học thuật, các chuỗi dữ liệu thực nghiệm trên có thể được minh họa sinh động qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng tăng trưởng nghịch chiều giữa số lượng lao động và năng suất lao động theo mô hình Randy Barker. Đồng thời, bảng ma trận tương quan giữa biến kiến thức nông nghiệp, vốn vay và giá trị máy móc sẽ làm nổi bật tác động cộng hưởng của các yếu tố nguồn lực đối với việc tối ưu hóa hàm sản xuất nông hộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả lượng hóa mô hình kinh tế lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy năng suất lao động nông nghiệp tỉnh Kiên Giang:

  1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao năng suất đất: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện triển khai quy hoạch chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình canh tác luân canh lúa - tôm, rau màu chuyên canh và cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Mục tiêu đặt ra là nâng hệ số gieo trồng cây hàng năm từ 1,7 lần lên trên 2,2 lần, phấn đấu đưa năng suất đất của tỉnh đạt và vượt mức bình quân toàn vùng trước năm 2015.

  2. Tăng cường đầu tư cơ giới hóa và tích tụ ruộng đất: Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang tiếp tục duy trì và mở rộng chương trình hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay mua sắm máy móc nông nghiệp, nâng tỷ lệ thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp từ 20% lên trên 60% vào năm 2012. Đồng thời, củng cố hoạt động của 91 hợp tác xã và hơn 9.000 trang trại hiện có, khuyến khích các hình thức liên kết dồn điền đổi thửa nhằm mở rộng quy mô diện tích canh tác trên mỗi lao động.

  3. Khơi thông nguồn vốn tín dụng nông nghiệp trung và dài hạn: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Kiên Giang chỉ đạo các tổ chức tín dụng nâng tỷ trọng cho vay khu vực nông nghiệp từ 21,8% lên tối thiểu 35% tổng dư nợ toàn địa bàn. Cần nâng tỷ lệ vốn vay trung và dài hạn từ 15,4% lên mức 30%, đồng thời điều chỉnh khung giá đất thế chấp sát với giá trị chuyển nhượng thực tế trên thị trường để tăng hạn mức tín dụng cho hơn 100 nghìn hộ nông dân vay vốn.

  4. Nâng cao kiến thức nông nghiệp và chuẩn hóa hệ thống khuyến nông: Trung tâm Khuyến nông tỉnh phát huy năng lực của mạng lưới 355 cán bộ khuyến nông và 219 câu lạc bộ khuyến nông cơ sở. Đơn vị cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật theo tiêu chuẩn 3 giảm 3 tăng, chuyển giao quy trình canh tác công nghệ sinh học và đào tạo kỹ năng quản trị kinh doanh nông nghiệp cho trên 70% chủ hộ sản xuất tại 104 xã có tổ kinh tế kỹ thuật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang cùng các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long có thể sử dụng các chỉ số định lượng của đề tài để xây dựng quy hoạch sử dụng 412.279 ha đất nông nghiệp, ban hành chính sách cơ giới hóa đồng ruộng và phân bổ ngân sách khuyến nông hàng năm.

  2. Các tổ chức tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Chính sách Xã hội có căn cứ thực tiễn về nhu cầu vốn của hơn 104 nghìn hộ vay để thiết kế các gói tín dụng trung và dài hạn linh hoạt, điều chỉnh chính sách định giá tài sản bảo đảm phù hợp với đặc thù sản xuất nông hộ.

  3. Ban quản lý hợp tác xã, chủ trang trại và cán bộ khuyến nông cơ sở: Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý có thể ứng dụng bảng tiêu chí đánh giá kiến thức nông nghiệp và mô hình đa dạng hóa kinh tế hộ để tổ chức các dịch vụ cơ giới hóa, làm đất, bơm tưới và liên kết bao tiêu nông sản cho xã viên.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kinh tế: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Kinh tế Nông nghiệp có thể kế thừa khung phân tích lý thuyết tích hợp từ các học thuyết kinh tế kinh điển và tham khảo quy trình xử lý dữ liệu hồi quy đa biến trên mẫu 144 quan sát để phục vụ các công trình nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao năng suất đất của tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn nghiên cứu thấp hơn đáng kể so với bình quân Đồng bằng Sông Cửu Long? Năng suất đất Kiên Giang năm 2005 chỉ đạt 8,44 triệu đồng/ha (so với 11,63 triệu đồng/ha của vùng) do diện tích trồng lúa chiếm tới 81% nhưng hệ số gieo trồng chỉ đạt 1,7 lần. Diện tích cây lâu năm chỉ chiếm 17% với hệ số canh tác 0,3, kết hợp với năng suất lúa 4,94 tấn/ha thấp hơn năng suất bình quân toàn vùng.

Mô hình kinh tế lượng trong luận văn xác định yếu tố nào đóng vai trò then chốt nhất đối với năng suất lao động nông nghiệp? Kết quả hồi quy trên phần mềm chuyên dụng chỉ ra rằng quy mô diện tích đất canh tác, mức độ đầu tư máy móc cơ giới hóa và điểm số kiến thức nông nghiệp của chủ hộ là ba biến độc lập có hệ số tác động tích cực và mang ý nghĩa thống kê cao nhất đến giá trị sản xuất trên một lao động.

Cỡ mẫu 144 quan sát hợp lệ được phân bổ như thế nào để đảm bảo tính đại diện cho toàn tỉnh Kiên Giang? Mẫu khảo sát được phân tầng ngẫu nhiên trên 11 xã thuộc 4 huyện, đại diện đầy đủ cho 3 vùng sinh thái tự nhiên: ven biển tại An Biên, đồng bằng tại Hòn Đất và Châu Thành, gò đồi tại Kiên Lương; đồng thời phản ánh đủ 3 cấp độ quy mô đất đai từ thấp, trung bình đến cao.

Rào cản lớn nhất trong công tác cung ứng tín dụng cho nông hộ tại Kiên Giang giai đoạn này là gì? Tỷ trọng dư nợ cho vay nông nghiệp chỉ chiếm 21,8% tổng dư nợ toàn tỉnh với mức bình quân 23,925 triệu đồng mỗi hộ. Khung giá đất quy định làm tài sản thế chấp quá thấp và tỷ lệ vốn vay trung dài hạn chỉ đạt 15,4% khiến nông dân gặp khó khăn khi muốn vay vốn lớn để mua sắm máy cơ khí.

Cơ giới hóa nông nghiệp đã tác động ra sao đến cơ cấu lao động nông thôn Kiên Giang? Việc trang bị hơn 500 máy gặt đập liên hợp và đạt tỷ lệ 97% cơ giới hóa khâu làm đất, bơm tưới đã giải phóng sức lao động thủ công, tạo điều kiện cho lao động nông nghiệp chuyển dịch sang các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nông thôn, giúp quy mô đất bình quân tăng lên 0,87 ha trên mỗi lao động.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng sản xuất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang giai đoạn 1996 - 2007, ghi nhận tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 6%/năm và mức độ cơ giới hóa khâu làm đất đạt 97%.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn của nông nghiệp địa phương là năng suất đất năm 2007 chỉ đạt 9,09 triệu đồng/ha, hệ số gieo trồng lúa thấp (1,7 lần) và tỷ trọng vốn tín dụng trung dài hạn cho nông nghiệp chỉ chiếm 15,4%.
  • Đề tài đóng góp mô hình kinh tế lượng thực nghiệm lượng hóa thành công 7 yếu tố đầu vào then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động nông nghiệp trên mẫu điều tra 144 hộ nông dân.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất với lộ trình thực hiện đến năm 2012 và 2015, tập trung vào đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, hỗ trợ lãi suất cơ giới hóa, mở rộng tín dụng nông thôn và nâng cao năng lực khuyến nông.
  • Quý cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác chi tiết các bảng số liệu thống kê và mô hình hồi quy trong toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác thực tiễn và nghiên cứu học thuật.