CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là đề tài được nhiều tác giả nghiên cứu trong những năm gần đây. Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu: - Tác giả Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội đưa ra lý thuyết về năng lực cạnh tranh nói chung trong đó có đề cập các lý luận liên quan đến năng lực cạnh tranh và chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế. Đây là nguồn tham khảo vô cùng giá trị về mặt lý luận và là căn cứ xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, cuốn sách chỉ dừng lại là những lý thuyết chung và cũng chỉ tập trung nhiều vào năng lực cạnh tranh kinh tế quốc gia.TS Nguyễn Thị Quy (2005) “Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập”, (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội) đã trình bày khá sâu về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập. Cuốn sách vừa có giá trị lý luận, vừa có giá trị thực tiễn về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại và trở thành một tài liệu tham khảo đáng tin cậy. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu khá chung về các ngân hàng thương mại mà chưa có phân tích trong những trường hợp cụ thể. - TS Phạm Thanh Bình và TS Phạm Huy Hùng (2005) nghiên cứu năng lực cạnh tranh ở khía cạnh của cả hệ thống ngân hàng trong đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế”, (Công trình nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.) Những năm gần đây, khi suy thoái kinh tế toàn cầu kéo theo khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính tiền tệ trong và ngoài nước đã dẫn đến những khó khăn trong 5 hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Vì thế, nhiều đề tài nghiên cứu ở khía cạnh giải quyết các vấn đề về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong điều kiện suy thoái kinh tế hoặc trong bối cảnh hội nhập đã ra đời. Có thể nêu ra một số đề tài tiêu biểu nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập như: luận văn Thạc sĩ kinh tế đề tài "Tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế" của tác giả Ths. Trịnh Thuý Hằng, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007; Luận văn Thạc sĩ kinh tế, đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh Ngân hàng TMCP Phát triển nhà thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Ths. Phạm Nguyễn Hoàng Thuỵ Khanh, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007; Luận văn Thạc sĩ kinh tế, đề tài "Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng TMCP tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Ths.
Trần Thị Út Hiền, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008 đã phân tích kỹ càng bối cảnh hội nhập quốc tế ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngân hàng thương mại và đối với ngân hàng cụ thể. Từ đó, đề ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng. Tuy nhiên, những nghiên cứu này lại chưa đề cập đến làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại trong giai đoạn phục hồi của nền kinh tế sau suy thoái. Trong các nghiên cứu trên, vấn đề cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh đã được tiếp cận ở những góc độ, ngành và lĩnh vực cụ thể khác nhau.
Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể về mặt lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Á Châu giai đoạn 2015-2020 là giai đoạn phục hồi của nền kinh tế. Do vậy, với cách tiếp cận, nội dung và phạm vi nghiên cứu đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Á Châu không trùng với những đề tài đã công bố. Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm ngân hàng thương mại 6 Có nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại: Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư. Nghị định của Chính phủ số 49/2001NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước 1.
Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Ngân hàng thương mại thực hiện những chức năng sau: Thứ nhất, chức năng làm trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Thứ hai, chức năng trung gian thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể 7 kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Thứ ba, chức năng tạo tiền (tạo ra tiền gửi thanh toán) Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Cùng với sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nước thì không thể phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của ngành Ngân hàng. Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất. Với chức năng tạo nguồn tiền gửi thanh toán, các ngân hàng thương mại rõ ràng tạo được nguồn tài nguyên về vốn dồi dào, nguồn "huyết mạch" duy trì và đẩy mạnh hoạt động của các thành phần kinh tế. Các NHTM góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triểnsản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu.
Đây là kết quả tác động nhiềumặt của hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn 8 trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển, hướng chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay. Dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại, làm dễ dàng hơn các hoạt động cho vay. Vì thế, sản xuất cũng có điều kiện để phát triển. Thứ hai, NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng và làm trung gian thanh toán của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, hệ thống NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh thuận lợi vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất. Để thực hiện tốt vai trò cho vay tín dụng đối với mọi thành phần kinh tế, các NHTM đã huy động và tập trung phần lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong khu vực dân cư và doanh nghiệp.